Swedish Contemporary Bible

Sakarja 1:1-21

Uppdraget att återuppbygga templet

(1:1—8:23)

Vänd tillbaka till Herren

1I åttonde månaden av kung Dareios andra regeringsår1:1 I oktober-november 520 f.Kr. kom Herrens ord till profeten Sakarja, Berekjas son och Iddos sonson:

2Herren var mycket vred på era förfäder. 3Tala därför till folket: Så säger härskarornas Herre: ’Vänd om till mig, säger härskarornas Herre, så ska jag vända mig till er, säger härskarornas Herre.’ 4Var inte som era förfäder! För dem predikade de tidigare profeterna: Så säger härskarornas Herre: ’Vänd om från era onda vägar och era onda gärningar.’ Men de lyssnade inte och brydde sig inte om mig, säger Herren. 5Var är era förfäder nu? Och profeterna? Lever de för evigt? 6Mina ord och mina förordningar, som jag gett befallning om genom mina tjänare profeterna, nådde ju era förfäder. Då vände de om och sa:

’Så som härskarornas Herre har beslutat att göra med oss, i enlighet med vad våra levnadssätt och våra gärningar har förtjänat, så har han också handlat med oss.’ ”

Mannen bland myrtenträden

7Den tjugofjärde dagen i elfte månaden, i månaden shevat, av Dareios andra regeringsår,1:7 Den 15 febr. 519 f.Kr. kom Herrens ord till profeten Sakarja, son till Berekja och sonson till Iddo:

8Jag såg en syn om natten, och där var en man som red på en röd häst. Han stod bland myrtenträden i ravinen. Bakom honom stod röda, bruna1:8 Det hebreiska ordets betydelse är osäker. och vita hästar.

9Jag frågade: ”Vad är dessa för något, herre?”

Ängeln som talade med mig svarade: ”Det ska jag visa dig.”

10Mannen som stod bland myrtenträden sa: ”Herren har sänt dem för att färdas över jorden.”

11De sa då till Herrens ängel som stod bland myrtenträden: ”Vi har färdats över hela jorden, och där är det lugnt och stilla.”

12Då svarade Herrens ängel: ”Härskarornas Herre, hur länge ska du dröja med att förbarma dig över Jerusalem och Juda städer? Du har nu varit förbittrad på dem i sjuttio år.” 13Herren gav ängeln som talade med mig ett svar med goda och tröstande ord.

14Då sa ängeln som talade med mig: ”Ropa ut: Så säger härskarornas Herre: ’Min lidelse är stark för Jerusalem och för Sion. 15Men jag är mycket vred på de självsäkra folken, för medan min vrede ännu inte var så stor, gjorde de det onda ännu värre.’

16Därför säger Herren: ’Jag har vänt tillbaka till Jerusalem i barmhärtighet. Mitt tempel ska byggas där, säger härskarornas Herre, mätsnöret ska dras över Jerusalem.’

17Ropa igen: Så säger härskarornas Herre: ’Mina städer ska åter flöda över av det goda. Herren ska åter trösta Sion och åter utvälja Jerusalem.’ ”

Fyra horn och fyra smeder

18Jag lyfte blicken och fick se fyra horn1:18 Horn står för styrka och övermod.. 19Jag frågade ängeln som talade med mig: ”Vad är dessa för något?”

Han svarade: ”De är de horn som har skingrat Juda, Israel och Jerusalem.”

20Sedan visade Herren mig fyra smeder. 21Jag frågade: ”Vad har dessa kommit för att göra?” Han svarade: ”Där är de horn som skingrade Juda så att ingen orkade lyfta sitt huvud. Men nu har dessa kommit för att sätta skräck i dem och slå av hornen på de folk som lyfte sina horn mot Juda land och skingrade dem.”

Vietnamese Contemporary Bible

Xa-cha-ri 1:1-21

Kêu Gọi Ăn Năn

1Vào tháng tám năm thứ hai triều Vua Đa-ri-út, Tiên tri Xa-cha-ri, con Bê-rê-kia, cháu Y-đô, nhận được sứ điệp của Chúa Hằng Hữu như sau:

2“Chúa Hằng Hữu giận tổ tiên các ngươi lắm; 3vì vậy hãy nói cho chúng dân nghe: ‘Đây là lời của Chúa Hằng Hữu Vạn Quân: Nếu các ngươi quay về với Ta, Ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Chúa Hằng Hữu Vạn Quân phán vậy.’ 4Đừng như tổ tiên các ngươi không lắng nghe hay để ý những điều các tiên tri đã nói với họ: ‘Đây là lời Chúa Hằng Hữu Vạn Quân phán: Hãy từ bỏ đường ác, và chấm dứt những việc làm gian ác.’

5Tổ tiên các ngươi đâu cả rồi? Còn các tiên tri nữa, họ có sống mãi sao? 6Tuy nhiên lời Ta, luật lệ Ta truyền cho các tiên tri, cuối cùng đã chinh phục lòng tổ tiên các ngươi. Họ ăn năn và nói: ‘Chúa Hằng Hữu Vạn Quân đã xử chúng tôi đúng như Ngài bảo trước, trừng phạt những điều ác chúng tôi làm, những đường tà chúng tôi theo.’”

Một Người Giữa Đám Cây Sung

7Ngày hai mươi bốn tháng mười một, tháng Sê-bát, năm thứ hai triều Vua Đa-ri-út, Tiên tri Xa-cha-ri, con Bê-rê-kia, cháu Y-đô, lại nhận được sứ điệp của Chúa Hằng Hữu.

8Đêm ấy, tôi thấy một người cưỡi ngựa hồng đứng giữa đám cây sim trong một thung lũng hẹp. Đứng sau người ấy có nhiều ngựa hồng, ngựa nâu, và ngựa trắng. 9Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Thưa ngài, những cảnh này có nghĩa gì?”

Thiên sứ đáp: “Tôi sẽ cho ông biết.”

10Rồi người đứng giữa đám cây sim, tức thiên sứ của Chúa Hằng Hữu, lên tiếng đáp lời tôi: “Chúa Hằng Hữu sai những người này đi khắp đất.”

11Những người cưỡi ngựa báo với thiên sứ của Chúa Hằng Hữu: “Chúng tôi đã đi khắp đất, mọi nơi đều bình an.”

12Nghe thế, thiên sứ của Chúa Hằng Hữu cầu nguyện: “Lạy Chúa Hằng Hữu Vạn Quân, bảy mươi năm qua, cơn giận của Chúa Hằng Hữu đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem và các thành Giu-đa. Đến bao giờ Chúa Hằng Hữu mới thương xót các thành ấy?” 13Chúa Hằng Hữu dùng lời từ tốn an ủi thiên sứ đang nói chuyện với tôi.

14Thiên sứ bảo tôi: “Hãy công bố những lời này: ‘Đây là điều Chúa Hằng Hữu Vạn Quân phán: Khi thấy hoàn cảnh của Giê-ru-sa-lem và Núi Si-ôn, Ta giận1:14 Nt ghen lắm. 15Ta giận vì những dân tộc ngoại đạo đang sống an ổn, vì trong khi Ta chỉ hơi giận dân Ta thì các dân tộc ngoại đạo đã ra tay vượt quá ý định của Ta.’

16‘Cho nên, đây là điều Chúa Hằng Hữu phán: Ta sẽ trở lại với Giê-ru-sa-lem với lòng thương xót. Đền Thờ Ta sẽ được xây lại, Chúa Hằng Hữu Vạn Quân phán, và dây chuẩn mực sẽ giăng trên thành Giê-ru-sa-lem.’

17Hãy công bố tiếp: Đây là điều Chúa Hằng Hữu Vạn Quân phán: ‘Các thành của Ít-ra-ên sẽ lại thịnh vượng như xưa, Chúa Hằng Hữu sẽ vỗ về Si-ôn, vì một lần nữa, Ngài chọn Giê-ru-sa-lem.’”

Bốn Sừng và Bốn Thợ Rèn

18Tôi nhìn lên, thấy có bốn cái sừng. 19Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Những sừng ấy là gì?”

Thiên sứ đáp: “Đó là những sừng đã làm cho Giu-đa, Ít-ra-ên, và Giê-ru-sa-lem tan tác.”

20Chúa Hằng Hữu cho tôi thấy bốn người thợ rèn. 21Tôi hỏi: “Những người này đến làm gì?”

Thiên sứ đáp: “Họ đến đánh các sừng đã làm cho Giu-đa tan tác, để chúng không ngóc đầu lên được. Họ sẽ ném sừng của các nước ngoại đạo ấy xuống đất.”