Swedish Contemporary Bible

Jesaja 1:1-31

Syner: domar och löften

(1:1—5:30)

Budskap till ett upproriskt folk

1Detta är de syner som Jesaja, Amos1:1 Inte profeten Amos (Am 1:1); de hebreiska namnen stavas olika. son, såg om Juda och Jerusalem, när Ussia, Jotam, Achas och Hiskia var kungar i Juda.

2Hör, himlar, och lyssna, jord,

för Herren talar.

”Barn som jag har fostrat och vårdat

har vänt sig emot mig.

3Oxen känner sin ägare

och åsnan sin herres krubba,

men Israel känner inget,

mitt folk förstår inte.”

4Ve detta syndiga folk,

tyngt av skuld,

de gudlösas avkomma,

dessa vanartiga barn.

De har övergett Herren,

föraktat Israels Helige

och vänt honom ryggen.

5Har ni inte blivit tillräckligt slagna,

när ni fortsätter med ert trots?

Hela huvudet är sjukt

och hela hjärtat försvagat.

6Från foten till huvudet finns det ingenting helt,

bara blåmärken, ärr och infekterade sår,

som inte är urkramade,

som är utan förband,

som inte är behandlade med olja.

7Ert land ligger i ruiner,

och era städer är nerbrända.

Medan ni ser på förtär främlingar era åkrar.

Landet ligger skövlat som efter främlingars framfart1:7 Eller möjligen Sodom; de hebreiska orden liknar varandra. Sodom som ödeläggelsens symbol återkommer i v. 9, vilket ibland har ansetts tala för denna läsart..

8Dotter Sion har lämnats

som en hydda i en vingård

eller ett vaktskjul på gurkfältet,

som en belägrad stad.

9Om härskarornas Herre inte hade lämnat en liten rest av oss,

hade vi blivit som Sodom

och skulle likna Gomorra.

10Lyssna till Herrens ord, ni Sodoms furstar,

hör vår Guds lag, ni Gomorras folk!

11”Vad angår mig alla era slaktoffer?

säger Herren.

Jag har fått nog av brännoffer av baggar

och av det feta från gödda djur.

Jag har ingen glädje av blodet

från tjurar, lamm och getter.

12Vem har begärt av er,

att ni ska klampa in så här över mina förgårdar,

när ni kommer inför mig?

13Sluta att komma med era meningslösa offer,

offerröken är avskyvärd för mig.

Nymånadsfester och sabbater, era utlysta högtider –

jag står inte ut med era sammankomster!

De är besudlade med orätt.

14Jag hatar era nymånadsfester och högtider,

de har blivit en börda för mig,

och jag orkar inte bära den.

15När ni sträcker upp era händer

döljer jag min blick.

Hur mycket ni än ber lyssnar jag inte.

Era händer är täckta med blod.

16Tvätta er, bli rena!

Låt mig slippa se era onda gärningar,

sluta upp med er ondska!

17Lär er att göra det goda,

sök rättvisa.

Uppmuntra den förtryckte1:17 Uppmuntra den förtryckte är en osäker översättning; grundtextens innebörd är osäker. Ev: Led förtryckaren på rätt väg.,

ställ upp för faderlösa,

och för änkans talan.

18Kom och låt oss göra upp med varandra!”

säger Herren.

”Även om era synder är blodröda

ska de bli vita som snö,

även om de är purpurröda

ska de bli vita som ull.

19Om ni är villiga att lyda mig,

ska ni få äta av landets goda.

20Men om ni vägrar och är upproriska,

kommer ni att förgöras med svärd.” Herren har talat.

Sions berg

21Se, hur den trogna staden blivit en hora!

Den var full av rätt,

och rättfärdighet bodde därinne,

men nu bor där bara mördare.

22Ditt silver har blivit slagg,

ditt vin är utspätt med vatten.

23Dina ledare är upprorsmakare

och vänner med tjuvar.

Allesammans tar de mutor

och jagar efter vinning.

De bryr sig inte om att försvara den faderlöse,

och änkors sak tar de sig inte an.

24Därför säger Herren, härskarornas Herre,

Israels mäktige:

”Ve! Jag ska frigöra mig från mina fiender,

och min hämnd ska drabba mina motståndare.

25Jag ska vända min hand mot dig,

smälta bort ditt slagg som med lut

och avlägsna all din orenhet.

26Sedan ska jag ge dig domare,

sådana som du en gång hade,

och rådgivare som de du hade förr.

Då ska du kallas ’rättfärdighetens stad’

och ’den trogna staden.’ ”

27Genom rätt ska Sion räddas,

genom rättfärdighet de som vänder åter.

28Men överträdarna och syndarna ska gå under,

de som överger Herren ska förgås.

29”Då ska ni få skämmas

över de ekar som var er lust

och vanhedras för de lundar

som ni har utvalt.

30Ni ska bli som en terebint med vissnade löv,

som en lund utan vatten.

31Den mäktige ska bli som fnöske

och hans ogärningar som en gnista.

Tillsammans ska de brinna upp i en eld

som ingen kan släcka.”

Vietnamese Contemporary Bible

Y-sai 1:1-31

1Đây là khải tượng về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem mà Tiên tri Y-sai, con A-mốt, đã thấy trong đời các Vua Ô-xia, Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia làm vua Giu-đa.

Sứ Điệp cho Một Dân Tộc Phản Loạn

2Các tầng trời, hãy nghe! Đất, hãy lắng tai!

Đây là điều Chúa Hằng Hữu phán dạy:

“Ta đã cưu mang, nuôi dưỡng đàn con,

thế mà chúng nổi loạn chống nghịch Ta!

3Bò còn biết chủ,

lừa còn biết máng cỏ của chủ mình—

nhưng Ít-ra-ên lại không biết sự chăm sóc của chủ.

Dân Ta không nhận ra sự chăm sóc Ta dành cho họ.”

4Khốn cho một nước tội lỗi—

một dân lầm lỗi nặng nề.

Họ là dòng dõi gian ác,

con cái thối nát, chống bỏ Chúa Hằng Hữu.

Họ khinh bỏ Đấng Thánh của Ít-ra-ên

và lìa xa đường Chúa.

5Tại sao các ngươi cứ phạm tội để chịu roi vọt?

Các ngươi còn tiếp tục phản loạn mãi sao?1:5 Nt nổi loạn

Để cho đầu đau đớn,

và lòng nát tan.

6Các ngươi bị thương tích từ đỉnh đầu xuống bàn chân—

toàn là vết bằm, lằn roi, và vết thương bị làm độc—

chưa được xức dầu hay băng bó.

7Đất nước bị tàn phá,

các thành bị thiêu hủy.

Quân thù cướp phá những cánh đồng ngay trước mắt các ngươi,

và tàn phá những gì chúng thấy.

8Giê-ru-sa-lem xinh đẹp1:8 Ctd Con gái Si-ôn bị bỏ lại

như chòi canh trong vườn nho,

như lều canh vườn dưa sau mùa gặt,

như thành bị vây.

9Nếu Chúa Hằng Hữu Vạn Quân

không chừa lại một ít người trong chúng ta,

chắc chúng ta đã bị quét sạch như Sô-đôm,

bị tiêu diệt như Gô-mô-rơ.

10Hãy lắng nghe lời Chúa Hằng Hữu,

hỡi những người lãnh đạo “Sô-đôm.”

Hãy lắng nghe luật của Đức Chúa Trời chúng ta,

hỡi những người “Gô-mô-rơ.”

11Chúa Hằng Hữu phán:

“Muôn vàn tế lễ của các ngươi có nghĩa gì với Ta?

Ta chán các tế lễ thiêu bằng dê đực, mỡ thú vật mập,

Ta không vui về máu của bò đực, chiên con, và dê đực.

12Trong ngày ra mắt Ta,

ai đòi hỏi các ngươi thứ này khi các ngươi chà đạp hành lang Ta?

13Đừng dâng tế lễ vô nghĩa cho Ta nữa;

mùi hương của lễ vật làm Ta ghê tởm!

Cũng như ngày trăng mới, và ngày Sa-bát

cùng những ngày đặc biệt để kiêng ăn—

tất cả đều đầy tội lỗi và giả dối.

Ta không chịu các ngươi cứ phạm tội rồi lại tổ chức lễ lạc.

14Linh hồn Ta ghét những ngày trăng mới và lễ hội của các ngươi.

Chúng làm Ta khó chịu. Ta mệt vì chịu đựng chúng!

15Khi các ngươi chắp tay kêu xin, Ta sẽ chẳng nhìn.

Khi các ngươi cầu nguyện rườm rà, Ta sẽ chẳng nghe,

vì tay các ngươi đầy máu nạn nhân vô tội.

16Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch!

Hãy loại bỏ việc ác khỏi mắt Ta.

Từ bỏ những đường gian ác.

17Hãy học làm lành.

Tìm kiếm điều công chính.

Cứu giúp người bị áp bức.

Bênh vực cô nhi.

Đấu tranh vì lẽ phải cho các quả phụ.”

18Chúa Hằng Hữu phán:

“Bây giờ hãy đến, để cùng nhau tranh luận.

Dù tội ác các ngươi đỏ như nhiễu điều,

Ta sẽ tẩy sạch như tuyết.

Dù có đỏ như son,

Ta sẽ khiến trắng như lông chiên.

19Nếu các ngươi sẵn lòng vâng lời,

các ngươi sẽ ăn mừng những sản vật tốt nhất của đất.

20Nhưng nếu các ngươi ngoan cố và chống nghịch,

các ngươi sẽ bị gươm của quân thù tàn sát.

Ta, Chúa Hằng Hữu, đã phán vậy!”

Giê-ru-sa-lem Bất Trung

21Hãy nhìn Giê-ru-sa-lem,

xưa là thành trung tín và công chính,

nay là thành của lũ mãi dâm và sát nhân.

22Xưa được quý như bạc,

mà nay trở nên cặn bã.

Xưa rất tinh khiết,

mà nay như rượu bị pha nước.

23Những người lãnh đạo ngươi đều phản loạn,

thông đồng với phường trộm cướp.

Tất cả đều ưa của hối lộ

và chạy theo tài lợi,

không chịu bênh vực người mồ côi,

hay đấu tranh vì lẽ phải cho những quả phụ.

24Vì thế, Chúa, là Chúa Hằng Hữu Vạn Quân,

là Đấng Quyền Năng của Ít-ra-ên phán:

“Ta sẽ tiêu diệt người đối địch Ta,

và báo trả kẻ thù Ta.

25Ta sẽ ra tay đánh ngươi,

Ta sẽ khiến ngươi tan chảy và gạn bỏ những cặn bã.

Ta sẽ luyện sạch các chất hỗn tạp nơi ngươi.

26Rồi Ta sẽ lập lại các phán quan

và các cố vấn khôn ngoan như ngươi đã từng có.

Và một lần nữa, Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là Nhà Công Chính,

là Thành Trung Nghĩa.”

27Si-ôn sẽ được chuộc bằng công lý;

những ai ăn năn sẽ được chuộc bằng công chính.

28Nhưng bọn phản loạn và tội nhân sẽ bị tàn diệt,

còn những ai chối bỏ Chúa Hằng Hữu sẽ bị diệt vong.

29Các ngươi sẽ bị xấu hổ vì những cây sồi

linh thiêng mà các ngươi đã ưa thích.

Các ngươi sẽ bị thẹn thuồng

vì các khu vườn mình đã chọn.

30Các ngươi sẽ như cây sồi lá tàn héo,

như vườn không có nước.

31Những người mạnh sẽ như vỏ khô,

công việc của người ấy như mồi lửa.

Cả hai sẽ cùng cháy,

và không ai còn dập tắt được nữa.