Swedish Contemporary Bible

Predikaren 1:1-18

Predikarens personliga erfarenhet

(1:1—2:23)

Allt är meningslöst

1Ord av Predikaren, Davids son, kung i Jerusalem.

2”Tomhet, idel tomhet”1:2 Det hebreiska ordet kan också översättas intighet, förgänglighet, vindfläkt.,

säger Predikaren,

”tomhet, idel tomhet,

allt är tomhet.”

3Vad får en människa ut av allt sitt arbete,

som hon bemödar sig med under solen?

4Generationer kommer och generationer går,

men jorden består för evigt.

5Solen går upp och solen går ner

och skyndar sig tillbaka dit där den gick upp.

6Vinden blåser åt söder och vänder mot norr,

fram och tillbaka, om och om igen,

och återvänder alltid till sin gång.

7Alla floder rinner ut i havet,

men havet blir aldrig fullt,

och dit floderna har runnit förr,

dit återvänder de igen.

8Alla ord är otillräckliga,

ingen kan någonsin säga allt.

Ögat får aldrig nog av att se,

och örat fylls inte av vad det hör.

9Det som gjorts förr

kommer att göras igen.

Ingenting är nytt under solen.

10Finns det något om vilket man kan säga: ”Det här är nytt”,

så har det ändå funnits sedan urminnes tider, långt före oss.

11Dem som funnits i början minns man inte,

och de som ska komma,

kommer också att glömmas av sina efterkommande.

Att vara vis är meningslöst

12Jag, Predikaren, var kung över Israel i Jerusalem. 13Jag bestämde mig för att i vishet studera och utforska allt som görs under himlen. Denna tunga uppgift har Gud gett människan att plåga sig med. 14Jag såg på allt som görs under solen, och allt är meningslöst, ett jagande efter vind.

15Det som är krokigt kan inte rätas ut,

och det som fattas kan inte räknas.

16Jag sa för mig själv: ”Jag har blivit stor och skaffat mig mer visdom än någon annan som varit före mig i Jerusalem. I mitt innersta har jag sett mycken vishet och kunskap.” 17Jag ansträngde mig för att förstå vishet och kunskap, och likaså dumhet och dårskap, och jag insåg att även det var ett jagande efter vind,

18för ju mer visdom som kommer, desto mer sorg,

ju mer kunskap, desto mer lidande.

Vietnamese Contemporary Bible

Truyền Đạo 1:1-18

1Lời của Người Truyền Đạo, con Vua Đa-vít, cai trị tại Giê-ru-sa-lem.

Cuộc Đời Hư Ảo

2Người Truyền Đạo nói: “Mọi thứ đều vô nghĩa! Hoàn toàn vô nghĩa!”

3Con người làm lụng khó nhọc dưới ánh mặt trời để hưởng được gì? 4Thế hệ đến và thế hệ đi, nhưng trái đất vẫn không bao giờ thay đổi. 5Mặt trời mọc và mặt trời lặn, xoay vần không dứt. 6Gió thổi hướng nam rồi thổi hướng bắc. Quanh đi vòng lại, gió thổi không ngừng. 7Sông đổ mãi vào biển nhưng biển chẳng hề đầy. Nước trở về các sông và lại đổ vào biển. 8Vạn vật mỏi mòn không tả xiết. Chúng ta thấy nhiều nhưng vẫn không hài lòng. Chúng ta nghe nhiều nhưng vẫn không mãn nguyện.

9Việc gì đã xảy ra, sẽ còn tái diễn. Điều gì làm ngày nay, người xưa cũng đã làm rồi. Chẳng có gì mới dưới mặt trời. 10Thỉnh thoảng có người nói: “Có vài điều mới!” Nhưng thật ra nó đã có; không có gì thật sự mới. 11Chúng ta không nhớ những việc xảy ra thời trước, và trong thế hệ mai sau, cũng chẳng ai hồi tưởng việc chúng ta làm hôm nay.

Sự Vô Nghĩa của Khôn Ngoan

12Tôi, Người Truyền Đạo, là vua của Ít-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem. 13Tôi chuyên tâm tìm hiểu và dùng sự khôn ngoan để khảo sát những sự việc dưới trời. Tôi sớm khám phá rằng Đức Chúa Trời đã giao mọi việc lao khổ cho loài người. 14Tôi nhận thấy mọi công trình dưới mặt trời, và thật, tất cả đều vô nghĩa—như đuổi theo luồng gió.

15Vật gì đã bị cong vẹo không thể uốn thẳng được?

Đã thiếu hụt, làm sao có thể đếm được?

16Tôi tự nhủ: “Kìa, tôi khôn ngoan hơn các vị vua cai trị tại Giê-ru-sa-lem trước tôi. Tôi có kiến thức và sự hiểu biết hơn bất cứ ai trong họ.”1:16 Nt các tiên đế tại Giê-ru-sa-lem 17Vậy, tôi cố gắng học hỏi từ sự khôn ngoan đến sự điên rồ và dại dột. Nhưng qua kinh nghiệm, tôi phải nhìn nhận điều đó cũng chẳng khác gì đuổi theo luồng gió.

18Càng khôn ngoan càng nhiều sầu khổ.

Càng hiểu biết càng nhiều buồn đau.