Swedish Contemporary Bible

Ordspråksboken 1:1-33

Vishetens välsignelse

(1:1—9:18)

1Ordspråk av Salomo, Davids son, Israels kung.

2Av dem får man fostran och vägledning,

så att man förstår de visas ord.

3Av dem får man vägledning till insikt

och till ett ärligt och rättfärdigt liv.

4De ger klokhet till de okunniga,

och lärdom till de unga om vad som är viktigt.

5Den vise hör dem och ökar sin kunskap.

Den kloke skaffar sig vägledning

6för att förstå ordspråk och liknelser,

de visas ord och gåtor.

7Herrens fruktan är vishetens början,

men den som är oklok föraktar vishet och vägledning.

8Hör, min son, din fars förmaning,

förkasta inte din mors undervisning.

9De bildar en skön krans på ditt huvud,

en vacker kedja kring din hals.

10Min son, låt dig inte lockas av syndare.

11De säger:

”Kom! Vi lägger oss i bakhåll för att döda,

för att lura på oskyldiga.

12Likt dödsriket slukar vi dem levande och hela,

så som de som läggs ner i graven.

13Vi ska få alla slags värdefulla ting

och kan fylla våra hus med plundrat gods.

14Du får vara med och dela,

pengarna kan vi ha i en gemensam kassa.”

15Min son, gå inte in på deras väg,

sätt inte din fot på deras stig,

16för med snabba steg söker de sig till ondskan,

och snabbt vill de utgjuta blod.

17Det är meningslöst att breda ut ett nät

inför ögonen på fåglarna.

18Dessa ligger på lur efter sitt eget blod

och i bakhåll för sina egna liv.

19Sådant blir slutet för den som roffar åt sig i oärlighet,

det kostar honom hans eget liv.

20Visheten ropar högt på gatan

och höjer sin röst på torget.

21Mitt bland de bullriga gatorna predikar den

och håller tal vid stadsportarna:

22”Hur länge ska ni okunniga älska okunnighet,

ni smädare njuta av smädelser,

ni dårar hata kunskap?

23Vänd om och ta emot min tillrättavisning,

så ska jag låta min ande komma över er

och dela med mig av min kunskap till er.

24Jag har ropat på er, men ni har inte lyssnat.

Jag har räckt ut min hand,

men ingen har brytt sig om den.

25Ni har struntat i alla mina råd

och avvisat min tillrättavisning.

26Därför ska jag också skratta åt er olycka

och håna er förtvivlan,

27när förskräckelsen griper tag i er som ett oväder

och olyckan sveper över er som en stormby,

när nöd och ångest drabbar er.

28Då kommer de att ropa till mig,

men jag ska inte svara.

De kommer att söka mig

men inte finna.

29De hatade kunskap

och ville inte frukta Herren,

30de avvisade mina råd

och föraktade mina tillrättavisningar.

31Därför får de äta sina gärningars frukt

och mätta sig med sina onda planer.

32De okunnigas avfällighet ska kosta dem livet

och dårarnas sorglöshet förgöra dem.

33Men den som lyssnar till mig ska leva i trygghet

och behöver inte vara rädd för något ont.”

Vietnamese Contemporary Bible

Châm Ngôn 1:1-33

Mục Đích của Châm Ngôn

1Đây là những châm ngôn của Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, vua Ít-ra-ên.

2Để người ta tìm đến khôn ngoan và tiếp thu lời khuyên dạy,

cùng phân biện được tri thức.

3Để đạt đến một đời sống kỷ luật và cẩn trọng,

hành động phải lẽ, công bằng, và ngay thẳng.

4Để giúp người đơn sơ được sáng suốt,

và người trẻ tuổi hiểu biết và thận trọng.

5Người khôn học hỏi châm ngôn để thêm khôn.

Người hiểu biết thấy được đường đi nước bước

6nếu biết ứng dụng châm ngôn, ngụ ngôn

dùng những lời khôn ngoan và những câu đố thâm trầm của hiền nhân.

7Kính sợ Chúa Hằng Hữu là khởi đầu của mọi tri thức,

chỉ có người dại mới coi thường khôn ngoan và huấn thị.

Lời Khuyên của Người Cha: Tìm Kiếm Sự Khôn Ngoan

8Con ơi, phải nghe lời cha khuyên dạy.

Đừng bỏ khuôn phép của mẹ con.

9Đó là trang sức duyên dáng trên đầu con

và dây chuyền xinh đẹp nơi cổ con.

10Con ơi, khi người tội lỗi quyến rũ,

con đừng nghe theo!

11Khi họ bảo: “Hãy đến với chúng ta.

Rình rập và giết người!

Lén hại người lương thiện vô tội!

12Ta sẽ nuốt sống nó như âm phủ;

nuốt trọn như người xuống huyệt sâu.

13Ta sẽ lấy đủ mọi của báu.

Chất của cướp đầy nhà.

14Bạn sẽ cùng chúng ta rút thăm chia của;

rồi tất cả đều chung một túi tiền.”

15Thì con ơi, đừng nghe theo họ!

Chân con phải tránh xa đường họ đi.

16Vì họ nhanh chân theo điều ác.

Vội vàng ra tay đổ máu.

17Khi người giăng lưới bắt chim,

chim khôn bay thoát.

18Nhưng bọn người này tự giăng bẫy;

rồi sa vào bẫy do chính mình giăng ra.

19Đó là số phận người ham lợi bất nghĩa;

lợi ấy sẽ tiêu diệt mạng sống họ.

Sự Khôn Ngoan Kêu Lên Ngoài Đường

20Khôn ngoan lên tiếng ngoài đường.

Loan truyền khắp phố phường.

21Kêu gọi nơi công cộng,

tại cổng thành, trong đô thị:

22“Hỡi người khờ dại, đến bao giờ

ngươi mới thôi chìm đắm u mê?

Đến khi nào người chế nhạo mới bỏ thói khinh khi?

Và người dại thù ghét tri thức đến chừng nào?

23Hãy đến và nghe ta sửa dạy.

Ta sẽ ban thần trí khôn ngoan

để con thông suốt lời ta.

24Nhưng, dù ta kêu gọi, các ngươi vẫn từ nan.

Ta đưa tay chờ đợi, cũng không ai quan tâm.

25Không ai để ý lời ta khuyên răn

hay chịu nghe lời ta quở trách.

26Nên khi các người lâm nạn, ta sẽ cười!

Và chế giễu khi các người kinh hãi—

27khi kinh hoàng vụt đến tựa phong ba,

khi tai ương xâm nhập như bão tố,

và nguy nan cùng khổ ngập tràn.

28Họ sẽ kêu cầu ta, nhưng ta chẳng đáp lời.

Họ sẽ tìm kiếm ta, nhưng không sao gặp được.

29Chính vì họ thù ghét tri thức

và không chịu kính sợ Chúa Hằng Hữu.

30Họ không muốn nghe ta khuyên dạy

và khinh bỉ mọi lời quở trách.

31Vì thế, họ sẽ hứng chịu kết quả công việc mình,

lãnh trọn quả báo mưu mô mình.

32Người ngây thơ chết vì lầm đường lạc lối.

Người dại dột bị diệt vì tự thị tự mãn.

33Nhưng ai nghe ta sẽ sống bình an,

không lo tai họa.”