Swedish Contemporary Bible

Nehemja 1:1-11

Muren byggs upp

(1:1—7:3)

Nehemja återvänder till Jerusalem

Dåliga nyheter från Jerusalem

1Nehemjas, Hakaljas sons, berättelse.

I månaden kislev, under det tjugonde året1:1 Syftar troligen på den persiske kungen Artaxerxes I:s tjugonde regeringsår., var jag i Susans borg. 2Då kom Hanani, en av mina bröder, dit tillsammans med några män från Juda. Jag frågade dem om judarna som var kvar efter fångenskapen och hur det stod till i Jerusalem.

3De svarade mig: ”De som är kvar efter fångenskapen och befinner sig i provinsen är i nöd och vanära. Jerusalems mur är nedriven, och dess portar uppbrända.”

Nehemja ber för Israel

4När jag fick höra detta, satte jag mig ner och grät. Under flera dagar sörjde och fastade jag och bad till himlens Gud.

5Jag sa:

Herre, himlens Gud, du store och fruktansvärde Gud, du håller förbundet och är nådig mot dem som älskar dig och håller dina bud. 6Låt ditt öra och dina ögon vara öppna för din tjänares bön, som din tjänare natt och dag ber för dina tjänare israeliterna. Jag bekänner de synder som vi israeliter har begått mot dig. Även jag och min fars familj har syndat mot dig. 7Vi har gjort mycket ont gentemot dig. Vi har inte lytt dina bud, stadgar och lagar som du gav din tjänare Mose.

8Kom ihåg vad du sa till din tjänare Mose: ’Om ni är trolösa ska jag skingra er bland folken, 9men om ni vänder tillbaka till mig och håller mina bud och följer dem, ska jag samla er igen, även om ni blivit förvisade bort till de mest avlägsna delar av världen. Jag ska samla dem och föra dem tillbaka till den plats jag har utvalt, där mitt namn ska bo.’

10De är ju dina tjänare och ditt folk som du befriat genom din stora makt och styrka. 11Herre, hör din tjänares bön och dina tjänares böner, deras som gläder sig i att frukta ditt namn. Ge nu mig, din tjänare, framgång och låt mig få möta välvilja inför denne man.”

Jag var vid den tiden kungens munskänk.

Vietnamese Contemporary Bible

Nê-hê-mi 1:1-11

1Đây là lời tự thuật của Nê-hê-mi, con Ha-ca-lia:

Lời Cầu Nguyện

Vào tháng Kít-lê năm thứ hai mươi triều Ạt-ta-xét-xe, vua Ba Tư, khi tôi đang ở tại cung Su-sa, 2có một anh em tên Ha-na-ni cùng vài người từ Giu-đa đến thăm. Tôi hỏi thăm họ về tình hình những người Giu-đa không bị bắt đi đày, và tình hình thành Giê-ru-sa-lem.

3Họ cho biết những anh em thoát nạn tù đày, ở lại trong xứ hiện nay sống trong cảnh hoạn nạn, nhục nhã. Tường thành Giê-ru-sa-lem đổ nát, cổng thành cháy rụi.

4Nghe thế, tôi ngồi khóc suốt mấy ngày, kiêng ăn, kêu cầu với Đức Chúa Trời trên trời. 5Tôi thưa:

“Lạy Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời trên trời, Đức Chúa Trời vĩ đại, uy nghi, Đấng luôn giữ lời hứa, thương yêu người nào kính mến và tuân hành điều răn Ngài, 6xin Chúa nhìn thấy con đang ngày đêm cầu nguyện cho người Ít-ra-ên của Ngài; xin Chúa lắng tai nghe lời con. Con thú nhận rằng chúng con đã phạm tội với Chúa. Đúng thế, con và tổ tiên con có tội. 7Chúng con làm điều rất gian ác, không tuân hành điều răn và luật lệ Chúa truyền cho Môi-se, đầy tớ Chúa.

8Nhưng xin Chúa nhớ lại lời Ngài truyền cho Môi-se, đầy tớ Ngài: ‘Nếu các ngươi phạm tội, Ta sẽ rải các ngươi ra khắp nơi. 9Nhưng nếu các ngươi trở lại cùng Ta, tuân hành các điều răn, dù các ngươi có bị tản mác ở tận phương trời xa xăm, Ta cũng sẽ đem các ngươi về đất Ta chọn, nơi Ta ngự.’

10Chúng con là đầy tớ, là dân Chúa, đã được Chúa dùng quyền năng giải cứu. 11Lạy Chúa Hằng Hữu, xin lắng nghe lời cầu nguyện của con và của các đầy tớ Chúa vẫn hết lòng kính sợ Danh Ngài. Hôm nay, xin cho con được may mắn, được vua đoái thương.”

Lúc ấy tôi là người dâng rượu1:11 Một chức quan lớn thời phong kiến cho vua.