Swedish Contemporary Bible

Hesekiel 1:1-28

Syner, symbolhandlingar, budskap om dom och straff

(1:1—24:27)

Synen med de fyra varelserna och Herrens härlighet

1I det trettionde året,1:1 Det är omdiskuterat varifrån dessa trettio år ska räknas, från Jojakins exil eller från profetens födelse. Det senare verkar dock troligt; Hesekiel var präst, och prästerna började sin tjänstgöring vid trettioårsåldern. Han fick sin profetkallelse i juli 593 f.Kr., och av allt att döma är det detta år som avses. på femte dagen i fjärde månaden, när jag var bland de bortförda vid floden Kevar, öppnades himlen, och jag fick se syner från Gud.

2Den femte dagen i månaden, under femte året av kung Jojakins fångenskap, 3kom Herrens ord till prästen Hesekiel, Busis son, i kaldéernas land, vid floden Kevar. Där rörde Herrens hand vid honom.

4Jag såg en stormvind komma från norr, ett enormt moln med flammande eld, omgivet av ett ljussken. I dess innersta, mitt i elden, glänste det som av glödande metall1:4 Det hebreiska ordets, som här översätts med glödande metall, betydelse är osäker. Andra tolkningar: vitt guld, ädelsten.. 5Där inne syntes något som liknade fyra varelser. De såg ut som människor, 6men var och en av dem hade fyra ansikten och fyra vingar. 7Deras ben var raka, men fötterna liknade en kalvs klövar och glänste som polerad koppar. 8Under vingarna hade de människohänder på alla fyra sidorna1:8 Eller …åt fyra håll.. Alla fyra hade ansikten och vingar.

9Deras vingar vidrörde varandra, och de rörde sig rakt fram utan att vända sig om. 10Deras ansikten liknade en människas ansikte, och alla fyra hade ett lejonansikte på högra sidan, alla fyra hade ett tjuransikte på vänstra sidan, och alla fyra hade ett örnansikte. 11Sådana var deras ansikten. Deras vingar var utbredda upptill. Var och en hade två vingar som de vidrörde varandra med, och två som täckte deras kropp. 12Var och en av dem gick rakt fram. De gick dit anden1:12 Kan också syfta på Guds Ande, men i ljuset av v. 20, där varelsernas ande klart står omtalad är det troligare att det även här är frågan om deras ande. I Hesekiels bok står Anden/ande(n) ofta omtalad, och i många fall är det svårt att se om ordet syftar på Guds Ande eller någon annans; samma hebreiska ord används också om vind. gick, och de gick utan att vända sig. 13Varelsernas gestalter liknade glödande koleld och brinnande facklor.1:13 Eller: Mellan varelserna var något som liknade…. Grundtexten är svårtolkad. Elden rörde sig fram och tillbaka mellan varelserna, och blixtar sköt fram ur den. 14De rörde sig fram och tillbaka, snabbt som blixten.

15Jag såg på de fyra varelserna och lade märke till ett hjul på marken bredvid var och en av dem. 16Hjulen såg ut och var konstruerade så att de gnistrade som krysolit. Alla fyra var likadana och tycktes vara gjorda så att varje hjul var inneslutet i ett annat hjul. 17De kunde gå i alla fyra riktningarna utan att vända sig. 18Hjulringarna var höga och fruktansvärda, alla fyra försedda med ögon runtom.

19När varelserna rörde sig, rörde sig hjulen tillsammans med dem. När varelserna lyfte över jorden, lyfte också hjulen. 20De gick dit anden gick, och hjulen lyfte tillsammans med dem, för deras ande var i hjulen. 21När varelserna rörde sig, rörde sig även hjulen, när varelserna stannade, stannade även hjulen, och när varelserna lyfte över jorden, lyfte hjulen tillsammans med dem, eftersom varelsernas ande var i hjulen.

22Över varelsernas huvuden var något som liknade ett himlavalv, fruktansvärt glänsande som iskristaller, utbrett över deras huvuden. 23Under valvet var deras vingar utsträckta mot varandra, och med två vingar täckte de var och en sin kropp. 24Jag hörde bruset från deras vingar, när de rörde sig, som dånet av stora vatten, som den Väldiges röst, som larmet från en armé. När de stannade sänkte de vingarna. 25En röst hördes från himlavalvet över dem när de stannade med sänkta vingar.

26Däruppe ovanför valvet över dem stod något som liknade en tron gjord av safirsten, och på det som liknade en tron satt någon som såg ut som en människa. 27Jag såg att det som tycktes vara hans höfter och uppåt var som glödande metall, som omgivet av eld. Neråt från det som tycktes vara hans höfter såg jag något som liknade eld, omgivet av ett ljussken. 28Ljusskenet som syntes runt omkring honom var som en båge i skyn en regnig dag.

Så såg det ut, det som liknade Herrens härlighet. När jag såg den, föll jag ner med ansiktet mot marken. Då hörde jag rösten av någon som talade.

Vietnamese Contemporary Bible

Ê-xê-chi-ên 1:1-28

Khải Tượng về Các Sinh Vật

1Ngày năm tháng tư1:1 Tháng 7 năm 593 TCN năm thứ ba mươi, lúc tôi đang sống với những người Giu-đa bên Sông Kê-ba trong Ba-by-lôn, bầu trời mở ra, tôi thấy khải tượng của Đức Chúa Trời. 2Việc này xảy ra vào năm thứ năm sau khi Vua Giê-hô-gia-kin bị lưu đày. 3(Chúa Hằng Hữu ban sứ điệp này cho Thầy Tế lễ Ê-xê-chi-ên, con Bu-xi, tại xứ Canh-đê, bên bờ Sông Kê-ba, và tại đó, tay Chúa Hằng Hữu đặt trên ông.)

4Kìa, tôi thấy cơn bão từ phương bắc thổi đến, một đám mây lớn phát ra lửa sáng ngời, chiếu rọi chung quanh. Chính giữa lửa có vật rực rỡ như kim loại lóng lánh. 5Từ giữa đó xuất hiện bốn sinh vật, hình dạng giống như người, 6mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. 7Chân thẳng như chân người, bàn chân chúng như chân bò, rực rỡ như đồng bóng loáng. 8Dưới mỗi cánh có bàn tay như tay người. Cả bốn sinh vật có cánh và mặt. 9Cánh của mỗi sinh vật nối với cánh của sinh vật sau nó. Lúc đi, chúng đi thẳng tới trước, không quay lại.

10Mỗi sinh vật đều có mặt người ở phía trước, mặt sư tử ở bên phải, mặt bò ở bên trái, và mặt chim ưng ở phía sau. 11Mỗi sinh vật có hai đôi cánh giương lên cao—một đôi cánh giương ra giáp với cánh của sinh vật ở mỗi bên, và đôi cánh còn lại để che thân. 12Thần linh chọn đi đâu, các sinh vật đi theo hướng đó, chúng đi thẳng tới trước, không quay lại.

13Các sinh vật trông giống như than lửa đỏ hay như đuốc cháy sáng, và ánh sáng phát ra chớp nhoáng tới lui giữa chúng. 14Các sinh vật chạy tới chạy lui, nhanh như chớp.

15Đang chăm chú nhìn các sinh vật, tôi thấy trên mặt đất, ngay dưới mỗi sinh vật có một bánh xe. 16Các bánh xe tựa như làm bằng bích ngọc. Cả bốn bánh xe đều cùng hình dạng và làm cùng cấu trúc; mỗi bánh xe có một bánh xe thứ hai lồng bên trong nó. 17Khi chuyển động, chúng có thể tiến về bốn phía, không cần phải quay mặt. 18Vành bánh xe cao và đáng sợ, và chúng được bao bọc nhiều mắt chung quanh.

19Khi sinh vật tiến tới trước, bánh xe cũng tiến theo. Khi sinh vật bay lên khỏi đất, bánh xe cũng bay theo. 20Thần linh của sinh vật ở trong bánh xe. Vì vậy, thần linh đi đâu, bánh xe và sinh vật đi theo đó. 21Khi các sinh vật tiến đi, các bánh xe cũng tiến theo. Khi các sinh vật đứng lại, các bánh xe cũng đứng lại. Khi các sinh vật bay lên, các bánh xe cũng bay lên, vì thần linh của các sinh vật ở trong các bánh xe.

22Trên đầu các sinh vật có một vòm sáng như mặt trời, lấp lánh như thủy tinh. 23Mỗi sinh vật có hai cánh xòe ra bên dưới vòm sáng này, tiếp giáp với cánh sinh vật bên cạnh, và mỗi sinh vật có hai cánh che thân. 24Khi bay tiếng cánh nghe vang ầm như thác đổ hay như tiếng của Đấng Toàn Năng hoặc như tiếng ồn ào của một đạo quân hùng mạnh. Khi dừng lại, cánh liền hạ xuống. 25Khi sinh vật dừng chân hạ cánh, tôi nghe có tiếng nói vang ra từ vòm sáng trên đầu các sinh vật.

26Phía trên vòm sáng này có một vật giống như cái ngai bằng lam ngọc. Và trên ngai đó có hình dáng ngồi trông giống như người. 27Từ thắt lưng người ấy trở lên trông như kim loại lấp lánh, bập bùng như lửa. Và từ thắt lưng trở xuống như ngọn lửa thiêu, chiếu sáng chói lọi. 28Chung quanh người là vòng hào quang tỏa sáng, như cầu vồng trên mây sau cơn mưa. Đây là vinh quang của Chúa Hằng Hữu mà tôi thấy. Khi thấy vậy, tôi liền sấp mặt xuống đất, và nghe có tiếng nói với tôi.