Swedish Contemporary Bible

Domarboken 1:1-36

Israels misslyckande på slagfältet

(1:1—2:5)

1När Josua hade dött, vände sig Israels folk till Herren för att fråga honom: ”Vilka av oss ska först gå ut i striden mot kanaanéerna?”

2Herren svarade: ”Judas stam ska gå först och jag ska ge landet i hans hand.”

3Då sa Juda till sin bror Simon: ”Följ med mig till mitt område och strid med oss mot kanaanéerna, så ska jag hjälpa dig att inta ert område!”

Simon följde alltså med Juda. 4När Juda gick till anfall, gav Herren kanaanéerna och perisséerna i deras våld och 10 000 man blev slagna vid Besek. 5Det var där de stötte på Adoni-Besek, stred mot honom och besegrade kanaanéerna och perisséerna. 6Adoni-Besek flydde, men de förföljde honom och tog honom till fånga och högg av honom tummar och stortår.

7”Sjuttio kungar med avhuggna tummar och stortår har ätit av smulorna från mitt bord!” sa kung Adoni-Besek. ”Nu har Gud betalat tillbaka det jag gjort mot dem.” Man förde honom sedan till Jerusalem där han dog.

8Därefter anföll Juda Jerusalem och intog det. Man dödade alla med svärd och satte eld på staden.

9Sedan vände sig Judas män mot de kanaanéer som bodde i berglandskapen, i Negev och i Låglandet. 10De ryckte fram mot kanaanéerna i Hebron, tidigare kallat Kirjat-Arba, och besegrade Sheshaj, Achiman och Talmaj. 11Därifrån tågade de mot invånarna i Devir som förut kallades Kirjat-Sefer.

12Kalev sa: ”Den som anfaller och intar Kirjat-Sefer ska jag ge min dotter Aksa till hustru.”

13Otniel, son till Kalevs yngre bror, Kenas, intog staden och Kalev gav sin dotter Aksa till honom. 14När hon kom till Otniel, uppmanade hon honom att be hennes far om ett stycke mark. När hon steg av från sin åsna, frågade Kalev henne: ”Är det något du önskar?”

15Hon svarade: ”Ge mig en gåva! Du har gett mig land i Negev men ge mig några vattenkällor också!”

Då gav Kalev henne de övre och de nedre källorna.

16Ättlingarna till Moses svärfar, kainéerna, hade följt med judéerna från Palmstaden mot Juda öken i Negev nära Arad. De slog sig ner där bland folket.

17Därefter förenade sig Juda med sin bror Simon och de stred mot kanaanéerna vid staden Sefat. De vigde staden åt förintelse och därför kallas den Horma.1:17 Horma betyder förstörelse. 18Juda intog också städerna Gaza, Ashkelon och Ekron, med områdena runt omkring dem. 19Herren hjälpte Juda att inta hela bergsbygden, men folket som bodde på slätten kunde de inte besegra, för de hade stridsvagnar av järn.

20Kalev fick Hebron som Mose hade lovat och han drev bort Anaks tre söner därifrån.

21Benjamins stam jagade inte iväg jevuséerna som bodde i Jerusalem och därför bor dessa kvar bland benjaminiterna än idag.

22Josefs stam anföll Betel och Herren var med dem. 23De sände ut spejare till Betel – som förut hette Lus –  24vilka såg en man på väg ut ur staden. De lovade att skona honom, om han visade dem hur de skulle ta sig in i staden. 25Han visade dem ingången och de dödade alla invånarna utom mannen och hans familj. 26Han flyttade senare till hettiternas land och byggde upp en stad där som också fick namnet Lus, vilket den fortfarande heter.

27Manasse lyckades inte driva bort det folk som bodde i Bet-Shean, Taanak, Dor, Jivleam och Megiddo, med deras respektive kringliggande orter. Kanaanéerna hade nämligen föresatt sig att bli kvar i landet. 28När sedan israeliterna blev starkare, lät de kanaanéerna arbeta som slavar men tvingade dem aldrig att lämna landet. 29På samma sätt förhöll det sig med kanaanéerna som levde i Geser. De bodde kvar bland folket i Efraims stam.

30Sebulon lyckades inte driva bort kanaanéerna i Kitron och Nahalol men gjorde dem till slavar. 31Inte heller drev Asher ut invånarna från Acko, Sidon, Achlav, Aksiv, Helba, Afik och Rechov. 32Asheriterna bodde alltså bland de kanaanéer som redan fanns i landet när de kom dit och som de inte kunde driva bort. 33Naftali drev inte heller bort invånarna från Bet Shemesh eller från Bet-Anat utan fick bo bland kanaanéerna i landet. Invånarna i Bet Shemesh och Bet-Anat blev israeliternas slavar.

34Amoréerna tvingade Dans stam tillbaka till bergsbygden och hindrade dem från att komma ner på slätten. 35Amoréerna lyckades också till en början hålla sig kvar i Har-Heres, Ajalon och Shaalvim, men när Josefs stam senare växte i styrka gjorde man dem till slavar. 36Amoréernas område började vid Akrabbimhöjden, sträckte sig till Sela och fortsatte därifrån vidare uppåt.1:36 Versen är svår att översätta och innebörden osäker.

Vietnamese Contemporary Bible

Thẩm Phán 1:1-36

Giu-đa và Si-mê-ôn Tiến Chiếm Đất

1Sau khi Giô-suê qua đời, người Ít-ra-ên cầu hỏi Chúa Hằng Hữu: “Xin chỉ dạy chúng con, ai sẽ đi đánh người Ca-na-an trước nhất?”

2Chúa Hằng Hữu đáp: “Giu-đa, Ta đã giao đất Ca-na-an vào tay họ.”

3Người Giu-đa nói với anh em mình từ đại tộc Si-mê-ôn: “Xin hãy giúp chúng tôi đánh người Ca-na-an trong phần đất chúng tôi, rồi chúng tôi sẽ giúp anh em đánh chiếm phần đất của anh em.” Người Si-mê-ôn liền theo người Giu-đa.

4Người Giu-đa xuất trận, Chúa Hằng Hữu cho họ chiến thắng người Ca-na-an và người Phê-rết, giết 10.000 người ở Bê-xéc. 5Cũng tại Bê-xéc, họ đánh A-đô-ni Bê-xéc, người Ca-na-an, và người Phê-rết. 6Vua A-đô-ni Bê-xéc chạy trốn, bị quân Giu-đa đuổi theo bắt được, chặt đứt ngón tay cái và ngón chân cái của vua. 7A-đô-ni Bê-xéc nói: “Ta từng chặt ngón cái tay chân của bảy mươi vua, cho họ ăn thức ăn rơi rớt dưới bàn ta, ngày nay ta bị Đức Chúa Trời báo ứng.” Người ta giải vua lên Giê-ru-sa-lem, và vua chết tại đó.

8Người Giu-đa đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, tàn sát dân rồi đốt thành. 9Sau đó, họ quay xuống phía nam, đánh người Ca-na-an sống trên rừng núi và trong đồng bằng. 10Giu-đa lại đánh người Ca-na-an ở Hếp-rôn (tên cũ là Ki-ri-át A-ra-ba), hạ các thành Sê-sai, A-hi-man, và Thanh-mai. 11Từ đó, họ tiến đánh Đê-bia (tên cũ là Ki-ri-át Sê-phe). 12Ca-lép nói: “Tôi sẽ gả con gái tôi là Ạc-sa cho người nào có công đánh chiếm Ki-ri-át Sê-phe.” 13Ốt-ni-ên, con của Kê-na, em Ca-lép, lập công đầu, chiếm thành, và được Ca-lép gả con gái là Ạc-sa cho người làm vợ.

14Khi Ạc-sa đã lấy Ốt-ni-ên, nàng có giục chồng xin cha mình một sở ruộng. Lúc sắp lên đường theo chồng, nàng xuống lừa. Thấy thế, Ca-lép hỏi: “Con muốn gì?”

15Nàng thưa: “Xin cho con một ân huệ. Vì cha đã cho con vùng đất Nê-ghép khô cằn, xin cha cho con thêm mấy suối nước nữa.” Ca-lép cho nàng các suối nước thượng và hạ.

16Con cháu của ông gia Môi-se, là người Kê-nít, từ thành Cây Chà Là dời đến sống chung với người Giu-đa trong miền đồng hoang Giu-đa, phía nam A-rát.

17Người Giu-đa đi cùng với người Si-mê-ôn, đánh và tận diệt người Ca-na-an ở Xê-phát. Vì thế thành này được gọi là Họt-ma.1:17 Nghĩa là tận diệt 18Người Giu-đa còn chiếm Ga-xa, Ách-ca-lôn, Éc-rôn, và các thôn ấp phụ cận của thành ấy.

Ít-ra-ên Thất Bại khi Tiến Chiếm Đất

19Chúa Hằng Hữu giúp người Giu-đa đánh chiếm toàn miền núi rừng. Tuy nhiên, họ không đuổi được dân ở đồng bằng vì dân này có xe sắt. 20Theo lệnh Môi-se đã truyền, Hếp-rôn được giao cho Ca-lép. Ông đánh đuổi ba con trai của A-nác đi.

21Người Bên-gia-min không đuổi người Giê-bu ở Giê-ru-sa-lem; nên đến nay, dân này vẫn còn ở đó, sống chung với người Bên-gia-min.

22Nhà Giô-sép cũng tiến đánh Bê-tên và được Chúa Hằng Hữu phù hộ. 23Trước khi đánh Bê-tên (tên cũ là Lu-xơ), họ sai người do thám. 24Các thám tử gặp một người ở trong thành đi ra, liền điều đình với người này: “Nếu anh chỉ cho chúng tôi lối vào thành, chúng tôi sẽ thương xót cho anh.” 25Người này chỉ cho họ lối vào thành. Giô-sép tiêu diệt dân trong thành, nhưng tha cho cả nhà người kia sống. 26Người ấy đem gia đình chạy qua đất của người Hê-tít, xây lên một thành để ở, đặt tên là Lu-xơ, và cho đến nay, tên thành vẫn không đổi.

27Đại tộc Ma-na-se không đuổi người trong các thành Bết-sê-an, Tha-a-nác, Đô-rơ, Íp-lê-am, Mê-ghi-đô, và trong các thôn ấp phụ cận của các thành ấy đi, vì người Ca-na-an trong những nơi này quyết ở lại. 28Về sau, khi người Ít-ra-ên hùng mạnh hơn, liền bắt người Ca-na-an làm nô dịch, chứ không đuổi họ đi.

29Người Ép-ra-im cũng không đuổi người Ca-na-an ở Ghê-xe đi, nên họ ở lại đó, sống chung với người Ép-ra-im.

30Đại tộc Sa-bu-luân không đuổi dân thành Kít-rôn và Na-ha-lô đi, nên người Ca-na-an ở lại làm việc nô dịch.

31Đại tộc A-se không đuổi dân thành A-cô, Si-đôn, Ách-láp, Ách-xíp, Hên-ba, A-phéc, và Rê-hốp đi; 32vậy, người A-se sống chung với người Ca-na-an, thổ dân của các thành ấy.

33Người Nép-ta-li không đuổi dân thành Bết-sê-mết và Bết-a-nát đi, nhưng sống chung với dân Ca-na-an là dân bản địa. Tuy nhiên, dân Bết Sê-mết và dân Bết A-nát phải phục dịch bộ tộc Nép-ta-li.

34Người Đan không chinh phục được miền đồng bằng, phải dừng lại ở miền núi rừng, vì người A-mô-rít kháng cự. 35Người A-mô-rít cố thủ các thành Ha-hê-rết, A-gia-lôn, và Sa-an-bim, nhưng họ bị nhà Giô-sép chế ngự, bắt làm nô lệ. 36Biên giới đất A-mô-rít chạy từ dốc Ạc-ráp-bim, từ Sê-la trở lên.