Swedish Contemporary Bible

5 Moseboken 1:1-46

Återblick på ökentiden: Moses första tal

(1:1—4:43)

1Detta är det tal Mose höll till Israels folk i Moabs öken på östra sidan av floden Jordan mitt emot Suf mellan Paran och Tofel, Laban, Haserot och Di Sahav. 2Det tar elva dagar att gå från berget Horeb1:2 Horeb är ett annat namn på berget Sinai. till Kadesh Barnea om man tar vägen genom Seirs bergsbygd.1:2 Det tog Israel elva dagar att komma till Kanaans land första gången. Nu står de återigen vid gränsen, 38 år senare. Se v. 14,15. 3I det fyrtionde året1:3 Efter uttåget ur Egypten., på den första dagen i elfte månaden, meddelade Mose folket allt det som Herren hade befallt honom att säga till dem. 4Då hade Mose besegrat amoréernas kung Sichon som styrde i Heshbon. Vid Edrei hade han besegrat Og, kungen i Bashan, som styrde i Ashtarot. 5Det var öster om Jordan i Moab som Mose började undervisa om lagen. Han sa:

Ledare från varje stam

(2 Mos 18:13-27)

6Herren, vår Gud, sa till oss vid berget Horeb: ”Nu har ni stannat här tillräckligt länge. 7Gå nu till amoréernas bergsbygd och deras grannar i Jordandalen, bergsbygden, Låglandet, Negev och kusten, till Kanaans land och Libanon, ända till den stora floden Eufrat. 8Jag har gett er detta land. Gå nu och ta det land i besittning som Herren med ed lovade era förfäder Abraham, Isak och Jakob och alla deras ättlingar.”

9Då sa jag till er: ”Jag orkar inte bära ansvaret för er alldeles ensam, 10för Herren, er Gud, har förökat er så att ni är lika talrika som stjärnorna på himlen. 11Måtte han föröka er tusen gånger till och välsigna er som han har lovat, 12men hur ska jag ensam kunna bära den tunga börda ni är och de tvister som uppstår bland er? 13Välj alltså ut män från varje stam, sådana som är visa, erfarna och förståndiga, så ska jag låta dem bli era ledare!”

14Ni gick med på förslaget. 15Jag tog ledarna, kloka och erfarna män från varje stam, och lät dem bli ledare för er med ansvar över tusen, hundra, femtio eller tio. 16Jag förmanade era domare: ”Lyssna på era bröder och var rättvisa, såväl i tvister mellan bröder som i tvister med en utlänning. 17När ni dömer ska ni inte vara partiska. Lyssna till låg som hög. Var inte rädda för någon, för domen är Guds. Om det dyker upp något fall som ni tycker är för svårt, kan ni låta mig ta hand om det.” 18Samtidigt gav jag er också andra instruktioner om vad ni skulle göra.

De spejarna

(4 Mos 13:1-33)

19Sedan lämnade vi berget Horeb och vandrade genom den väldiga och fruktansvärda öken som ni ju själva har sett, tills vi slutligen kom fram till amoréernas bergsbygd, så som Herren, vår Gud, hade befallt oss. Vi kom till Kadesh Barnea. 20Där sa jag till er: ”Ni har nu kommit till amoréernas bergsbygd som Herren, vår Gud, har gett oss. 21Se, Herren, din Gud, har lagt landet framför dig! Gå nu och inta det, så som Herren, dina fäders Gud, har befallt. Var inte rädd och tveka inte!”

22Men då kom ni till mig och svarade: ”Låt oss först skicka iväg spejare som kan undersöka var det går bäst att ta sig in i landet och till vilka städer vi ska komma.”

23Det verkade vara ett bra förslag, så jag valde ut tolv spejare, en från varje stam. 24De gick över bergen och kom till Druvdalen och utforskade den. 25Sedan kom de tillbaka med olika frukter de plockat i landet. De rapporterade att det verkligen var ett bördigt land som Herren, vår Gud, ville ge oss.

Uppror mot Herren

(4 Mos 14:1-45)

26Men ni vägrade att gå in dit, ni gjorde uppror mot Herrens, er Guds, befallning. 27Ni muttrade och klagade i era tält och sa: ”Herren måste hata oss, eftersom han har lett oss hit från Egypten för att förgöras av dessa amoréer. 28Vad är det vi ger oss in i? Våra bröder som utforskade landet har skrämt oss med det de berättat, att folket i landet är stort och mäktigt och att städernas murar reser sig högt upp mot himlen. De har till och med sett Anaks ättlingar1:28 Se 4 Mos 13:33-34. där.”

29Jag sa då till er: ”Låt er inte skrämmas! Var inte rädda för dem! 30Herren, er Gud, går framför er och han kommer att strida för er, precis som ni såg honom göra i Egypten. 31Du såg ju också vilken omsorg han har haft om dig här i öknen, alldeles som en far som tar hand om sina barn, tills ni kommit ända hit.”

32Men ni vägrade trots detta att tro Herren, er Gud, 33som hade lett er hela vägen, valt ut lägerplatserna och gått före er i en eld om natten för att visa vägen och i ett moln om dagen.

34När Herren hörde hur ni klagade blev han arg. Han svor 35att inte en enda då levande vuxen från denna onda generation skulle få se det underbara land han hade lovat deras förfäder. 36Det enda undantaget var Kalev, Jefunnes son. Han hade helhjärtat följt Herren och därför skulle han och hans ättlingar få del av det land Kalev varit med om att utforska.

37Till och med på mig blev Herren arg för er skull. Han sa: ”Du ska inte få komma in dit! 38Istället ska din medhjälpare, Josua, Nuns son, komma dit. Uppmuntra honom, för han kommer att leda Israel och dela landet som arv åt dem. 39Era barn, de som ännu inte kan skilja på gott och ont, och som ni påstod skulle tillfångatas, de ska få komma dit, och till dem ska jag ge landet och de ska ta det i besittning. 40Men ni själva får vända om och gå tillbaka genom öknen mot Sävhavet.”

41Då svarade ni: ”Vi har syndat mot Herren. Vi vill gå och strida som Herren, vår Gud, har befallt oss.” Ni tog alltså era vapen och tänkte att det skulle bli en enkel sak att marschera upp i bergen.

42Men Herren sa till mig: ”Säg till dem att inte göra det, för jag tänker inte gå med dem. De kommer att besegras av fienden.”

43Jag sa detta till er, men ingen lyssnade. Istället handlade ni än en gång upproriskt mot Herrens befallning och gick i övermod upp i bergen. 44Men amoréerna som bodde där kom emot er som en bisvärm och dödade er hela vägen från Seir till Horma. 45Då återvände ni till Herren och grät inför honom, men han ville inte lyssna. 46Sedan blev ni kvar ganska länge i Kadesh.

Vietnamese Contemporary Bible

Phục Truyền Luật Lệ Ký 1:1-46

Huấn Thị Thứ Nhất của Môi-se

1Đây là huấn thị của Môi-se cho toàn dân Ít-ra-ên khi họ còn ở trong hoang mạc, bên bờ phía đông Sông Giô-đan, trong đồng bằng đối diện Su-phơ, khoảng giữa Pha-ran, Tô-phên, La-ban, Hát-sê-rốt, và Đi-xa-háp.

2Theo đường Núi Sê-i-rơ, họ đi từ Núi Hô-rếp1:2 Hay Si-nai tới Ca-đê Ba-nê-a mất mười một ngày. 3Ngày mồng một tháng mười một năm thứ bốn mươi,1:3 Ctd thêm: tính từ ngày rời Ai Cập Môi-se truyền lại cho dân chúng tất cả những luật lệ, chỉ thị của Chúa Hằng Hữu. 4Việc này xảy ra sau cuộc chiến thắng Si-hôn, vua A-mô-rít ở Hết-bôn và Óc, vua Ba-san ở Ách-ta-rốt, và Ết-rê-i.

5Khi người Ít-ra-ên ở trong đất Mô-áp, phía đông Sông Giô-đan, Môi-se khởi sự giảng giải chỉ thị của Chúa Hằng Hữu.

Lệnh Rời Khỏi Si-nai

6“Tại Hô-rếp, Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của chúng ta, phán rằng: ‘Các ngươi ở lại núi này đã khá lâu. 7Bây giờ, đi vòng lại phía đồi núi của người A-mô-rít và những vùng lân cận, gồm cả những vùng đồng bằng, đồi núi, thung lũng ở miền nam, vùng ven biển, đất của người Ca-na-an, Li-ban, cho đến tận sông lớn tức Sông Ơ-phơ-rát. 8Ta cho các ngươi tất cả vùng ấy. Đó là đất Chúa Hằng Hữu đã hứa cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, và con cháu họ. Các ngươi đi vào và chiếm lấy đi.’”

Môi-se Bổ Nhiệm Những Người Lãnh Đạo cho Các Đại Tộc

9Môi-se tiếp tục: “Lúc ấy, tôi nói với anh em rằng: ‘Trách nhiệm trước dân tộc quá nặng nề, một mình tôi không gánh vác nổi. 10Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của cha chúng ta đã cho chúng ta gia tăng dân số, và ngày nay dân ta đông như sao trời.’ 11Cầu xin Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của cha ông ta, cứ gia tăng dân số gấp nghìn lần, và ban phước lành cho anh em như Ngài đã hứa. 12Nhưng một mình tôi làm sao giải quyết hết mọi vấn đề khó khăn và tranh chấp của anh em? 13Thế thì, anh em nên chọn những người khôn ngoan, hiểu biết và kinh nghiệm trong đại tộc mình, để tôi cắt cử họ lãnh đạo toàn dân.

14Anh em trả lời: ‘Chúng ta nên thực hiện điều ông nói.’ 15Vậy, tôi bổ nhiệm những người được dân chúng chọn lựa làm lãnh đạo, phụ trách hàng nghìn, hàng trăm, hàng năm chục, và hàng chục người trong mỗi đại tộc.

16Tôi dặn họ trong lúc xét xử phải công minh với mọi người, người Ít-ra-ên cũng như ngoại kiều. 17Không được thiên vị sang hèn, không nể người quyền quý; phải công bằng xét lý lẽ đôi bên, vì việc xét xử vốn là việc của Đức Chúa Trời. Tôi cũng dặn họ nếu thấy vụ nào khó xử, cứ mang đến cho tôi, tôi sẽ giải quyết.

18Đồng thời tôi cũng có truyền cho anh em mọi luật lệ, chỉ thị khác cần phải tuân giữ.”

Thám Tử Khám Phá Vùng Đất

19“Sau đó, chúng ta rời Hô-rếp đi xuyên hoang mạc khủng khiếp mênh mông, để vào miền đồi núi của người A-mô-rít, theo lệnh Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời chúng ta, tiến đến Ca-đê Ba-nê-a. 20Tôi nói với anh em: ‘Đồi núi của người A-mô-rít này là địa đầu của lãnh thổ Chúa Hằng Hữu cho ta. 21Anh em hãy tiến lên, chiếm lấy đất hứa như Chúa Hằng Hữu cho ta. Đừng sờn lòng, nản chí!’

22Nhưng anh em đề nghị: ‘Chúng ta nên sai do thám đi trước, họ sẽ cho biết ta nên tiến lên theo lối nào, và thành nào cần phải chiếm trước.’

23Lời đề nghị ấy hợp lý, tôi chọn trong mỗi đại tộc một người đi do thám. 24Họ đi lên vùng đồi núi, đến thung lũng Ếch-côn. 25Họ hái một số hoa quả và đem về cho chúng ta. Họ báo rằng: ‘Vùng đất mà Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời chúng ta ban cho thật là phì nhiêu.’”

Ít-ra-ên Chống Nghịch Chúa Hằng Hữu

26“Nhưng anh em đã nổi loạn, chống lại lệnh của Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em, không chịu tiến lên. 27Ở nhà,1:27 Nt trong trại anh em nhỏ to phàn nàn với nhau: ‘Vì ghét ta nên Chúa Hằng Hữu mới dẫn ta ra khỏi Ai Cập, đem đến đây cho người A-mô-rít tiêu diệt. 28Chúng ta đi đâu bây giờ?’ Lòng tôi tan nát khi nghe các anh em nói chuyện: ‘Dân ấy cao lớn hơn ta, thành của họ cao tận trời, hào lũy kiên cố. Anh em còn cho biết họ có thấy người khổng lồ A-na-kim ở đó nữa!’

29Nhưng tôi nói với anh em rằng: ‘Anh em đừng sợ! 30Chúa Hằng Hữu, là Đức Chúa Trời của anh em, luôn luôn đi trước anh em. Ngài sẽ chiến đấu cho anh em, như anh em đã thấy Ngài chiến đấu tại Ai Cập. 31Còn lúc ở trong hoang mạc, anh em cũng đã chứng kiến cảnh Chúa Hằng Hữu săn sóc dân ta, như một người cha cõng con trai mình qua từng chặng đường cho đến nơi này.’

32Bất chấp những lời tôi nói, anh em không chịu tin tưởng Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em, 33mặc dù Ngài vẫn đi trước anh em, tìm cho anh em một nơi để cắm trại, dùng một trụ lửa ban đêm và một trụ mây ban ngày để dẫn đường anh em.

34Chúa Hằng Hữu nghe những lời phàn nàn của anh em, Ngài giận lắm, thề rằng: 35‘Sẽ không một ai thuộc thế hệ này được thấy đất hứa, 36trừ Ca-lép, con Giê-phu-nê, là người đã hết lòng theo Chúa Hằng Hữu. Ca-lép và con cháu ông sẽ hưởng một phần đất chính bàn chân ông đã đặt lên.’

37Chúa Hằng Hữu cũng giận cả tôi vì lỗi của anh em, phán rằng: ‘Con cũng không được vào đất hứa!’ 38Còn Giô-suê, con của Nun, người đang đứng trước anh em đây, sẽ được vào đó. Anh em nên khích lệ Giô-suê, vì ông sẽ lãnh đạo Ít-ra-ên trong cuộc chiếm đóng đất hứa. 39Chúa Hằng Hữu sẽ giao đất hứa cho con cái họ, lúc ấy là những em bé chưa phân biệt thiện ác. Họ bảo rằng con cái mình sẽ làm mồi cho địch; nhưng không, chính con cái họ sẽ vào chiếm đất hứa. 40Còn anh em phải quay lại, đi vào hoang mạc hướng về Biển Đỏ.

41Lúc ấy, anh em nói: ‘Chúng tôi có tội với Chúa Hằng Hữu. Chúng tôi xin tiến lên chiến đấu như Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của chúng ta, đã bảo.’ Và anh em tự ý trang bị khí giới, sẵn sàng tiến lên miền đồi núi.

42Chúa Hằng Hữu phán bảo tôi nói với anh em rằng: ‘Đừng tiến lên chiến đấu; họ sẽ bị quân thù đánh bại vì Ta không đi với họ.’

43Đây là điều tôi đã nói với anh em, nhưng anh em không nghe. Anh em đã cãi lệnh Chúa Hằng Hữu, tùy tiện tiến lên vùng đồi núi. 44Người A-mô-rít ở trên đồi núi đổ ra, đuổi anh em chạy như ong vỡ tổ, đánh giết họ từ Sê-i-rơ cho đến Họt-ma. 45Anh em chạy về kêu khóc với Chúa Hằng Hữu, nhưng Ngài không nghe nữa. 46Và anh em ở lại Ca-đe trong một thời gian dài.”