Luganda Contemporary Bible

Okukungubaga 1:1-22

Yerusaalemi Kifuuse Matongo

11:1 a Is 47:8 b 1Bk 4:21 c Is 3:26; Yer 40:9Ekibuga ekyajjulanga abantu nga kyabuliddwa!

Ekyabanga eky’amaanyi mu mawanga,

nga kifuuse nga nnamwandu!

Eyali kabaka omukazi ng’alina amasaza,

afuuse omuddu omukazi.

21:2 a Zab 6:6 b Yer 3:1 c Yer 4:30; Mi 7:5 d nny 16Ekiro akaaba nnyo nnyini,

n’amaziga ne gakulukuta ku matama ge.

Mu baganzi be bonna,

talina n’omu amubeesabeesa.

Mikwano gye bonna bamuliddemu olukwe,

bafuuse balabe be.

31:3 a Yer 13:19 b Ma 28:65Yuda agenze mu buwaŋŋanguse

oluvannyuma lw’okubonaabona n’okukozesebwa n’obukambwe ng’omuddu.

Kati abeera mu bannamawanga,

talaba kifo kya kuwummuliramu.

Bonna abamunoonya bamusanga

mu nnaku ye.

41:4 a Yer 9:11 b Yo 1:8-13Enguudo za Sayuuni zikungubaga,

kubanga tewali n’omu ajja ku mbaga zaakyo ezaalagibwa.

Emiryango gye gyonna girekeddwa awo,

bakabona be, basinda;

bawala be abaweereza bali mu buyinike,

naye yennyini ali mu nnaku.

51:5 a Yer 30:15 b Yer 39:9; 52:28-30Abamuyigganya bafuuse bakama be;

abalabe be beeyagala,

kubanga Mukama amuleeseeko ennaku,

olw’ebibi bye ebingi.

Abaana be batwalibbwa mu buwaŋŋanguse,

bawambiddwa omulabe.

61:6 Yer 13:18Ekitiibwa kyonna ekyali ku muwala wa Sayuuni

kimuweddeko,

abalangira be bafuuse ng’ennangaazi

ezibuliddwa omuddo;

mu bunafu,

badduse ababagoba.

71:7 Yer 37:7; Kgb 4:17Mu nnaku ez’okubonaabona kwe ng’asagaasagana,

Yerusaalemi ajjukira ebintu eby’omuwendo byonna

bye yalinanga mu nnaku ez’edda.

Abantu be bwe baagwa mu mikono gy’omulabe,

tewaali n’omu amubeera;

abalabe be ne bamutunuulira

ne bamusekerera olw’okugwa kwe.

81:8 a nny 20; Is 59:2-13 b Yer 13:22, 26 c Is 59:21, 22Yerusaalemi yayonoona nnyo nnyini,

bw’atyo n’afuuka atali mulongoofu.

Bonna abaamussangamu ekitiibwa bamunyooma,

kubanga balabye bw’asigalidde awo;

ye yennyini asinda,

era akwatibwa ensonyi.

91:9 a Ma 32:28-29; Is 47:7; Ez 24:13 b Yer 13:18 c Mub 4:1; Yer 16:7 d Zab 25:18Obutali bulongoofu bwe bwali mu birenge bye;

teyassaayo mwoyo ku bulamu bwe obw’ebiseera ebijja.

Okugwa kwe kwali kwa kyewuunyo;

tewaali n’omu amubeesabeesa.

“Ayi Mukama, tunuulira okubonaabona kwange,

kubanga omulabe awangudde.”

101:10 a Is 64:11 b Zab 74:7-8; Yer 51:51 c Ma 23:3Omulabe yagololera omukono

ku bintu bya Yerusaalemi byonna eby’omuwendo;

yalaba amawanga amakaafiiri

nga gayingira awatukuvu we,

beebo be wali ogaanye

okuyingira mu kuŋŋaaniro lyo.

111:11 a Zab 38:8 b Yer 52:6Abantu be bonna basinda

nga bwe banoonya ekyokulya;

eby’obugagga byabwe babiwanyisaamu emmere,

okusobola okuba abalamu.

“Laba, Ayi Mukama Katonda, onziseeko omwoyo

kubanga nnyoomebwa.”

121:12 a Yer 18:16 b nny 18 c Is 13:13; Yer 30:24“Mmwe tekibakwatako, mmwe mwenna abayitawo?

mwetegereze mulabe

obanga waliwo obuyinike obwenkana,

obwantukako,

Mukama bwe yanteekako

ku lunaku olw’obusungu bwe obungi.

131:13 a Yob 30:30 b Yer 44:6 c Kbk 3:16“Yaweereza omuliro okuva waggulu,

ne gukka mu magumba gange.

Yatega ebigere byange akatimba,

n’anzizaayo emabega.

Yandeka mpuubadde,

nga nzirise olunaku lwonna.

141:14 a Ma 28:48; Is 47:6 b Yer 32:5“Ebibi byange binfuukidde ekikoligo;

bisibiddwa ne binywezebwa omukono gwe.

Binzitoowerera mu bulago,

era bimmazeemu amaanyi.

Mukama ampaddeyo mu mikono gy’abo

be siyinza kugumiikiriza.

151:15 a Yer 37:10 b Is 41:2 c Is 28:18; Yer 18:21“Mukama anyoomye

abalwanyi abazira bonna abaali nange;

akuŋŋaanyizza eggye okunwanyisa,

okuzikiriza abavubuka bange.

Mukama alinnyiridde Omuwala Embeerera owa Yuda,

ng’omuntu bw’asambirira ezabbibu mu lyato ng’asogola.

161:16 a Kgb 2:11, 18; 3:48-49 b Zab 69:20; Mub 4:1 c nny 2; Yer 13:17; 14:17“Kyenva nkaaba,

amaaso gange ne gajjula amaziga,

kubanga tewali n’omu andi kumpi okumbeesabeesa,

ayinza okunzizaamu amaanyi.

Abaana bange banakuwavu

kubanga omulabe awangudde.”

171:17 Yer 4:31Sayuuni agolola emikono gye,

naye tewali n’omu amudduukirira.

Mukama awadde ekiragiro ku Yakobo

baliraanwa be babeere balabe be;

Yerusaalemi afuuse

ekintu ekitali kirongoofu wakati mu bo.

181:18 a 1Sa 12:14 b nny 12 c Ma 28:32, 41Mukama mutuukirivu,

newaakubadde nga najeemera ekiragiro kye.

Muwulirize mmwe amawanga gonna,

mutunuulire okubonaabona kwange;

Abavubuka bange ne bawala bange

batwalibbwa mu busibe.

191:19 Yer 14:15; Kgb 2:20“Nakoowoola bannange bannyambe,

naye tebanfaako;

bakabona bange n’abakadde b’ekibuga kyange

bazikiririra mu kibuga

nga banoonya ekyokulya

baddemu amaanyi.

201:20 a Yer 4:19 b Kgb 2:11 c Ma 32:25; Ez 7:15“Laba, Ayi Mukama Katonda bwe ndi omunakuwavu!

Ndi mu kubonaabona,

n’omutima gwange teguteredde

kubanga njeemye nnyo ekiyitiridde.

Ebweru ekitala kirindiridde okunsanyaawo,

ne mu nnyumba mulimu kufa kwereere.

211:21 a nny 8 b nny 4 c Kgb 2:15 d Is 47:11; Yer 30:16“Abantu bawulidde okusinda kwange,

naye tewali n’omu ananyamba.

Abalabe bange bonna bawulidde okusinda kwange;

basanyukidde ekyo ky’okoze.

Olunaku lwe walangirira,

lubatuukeko, babeere nga nze.

221:22 Nek 4:5“Obabonereze olw’obutali butuukirivu bwabwe bwonna,

nga nze bwe wambonereza.

Okusinda kwange kungi

n’omutima gwange guzirika.”

Vietnamese Contemporary Bible

Ai Ca 1:1-22

Khốn cho Giê-ru-sa-lem

1Thành Giê-ru-sa-lem, một thời dân cư đông đúc,

giờ đây hoang vu quạnh quẽ.

Xưa, thành ấy hùng cường giữa các quốc gia,

ngày nay đơn độc như góa phụ.

Nàng từng là nữ vương1:1 Ctd người đàn bà quý phái giữa các tỉnh trên trái đất,

bây giờ như một kẻ lao dịch khổ sai.

2Nàng đắng cay than khóc thâu đêm;

nước mắt đầm đìa đôi má.

Với bao nhiêu tình nhân thuở trước,

nay không còn một người ủi an.

Bạn bè nàng đều trở mặt,

và trở thành thù địch của nàng.

3Giu-đa bị dẫn đi lưu đày,

bị áp bức trong lao công nặng nhọc.

Nàng sống giữa những nước ngoại bang

và không nơi cho nàng ngơi nghỉ.

Tất cả bọn săn đuổi đã bắt kịp nàng,

nàng không còn nơi trốn chạy.

4Những con đường về Si-ôn than khóc,

vì không bóng người trong ngày trẩy hội.

Cửa thành hoang vu,

các thầy tế lễ thở than,

những trinh nữ kêu khóc—

số phận nàng toàn là cay đắng!

5Quân thù đã chiến thắng,

ung dung thống trị,

vì Chúa Hằng Hữu đã hình phạt Giê-ru-sa-lem

bởi vi phạm quá nhiều tội lỗi.

Dân chúng bị quân thù chặn bắt

và giải đi lưu đày biệt xứ.

6Tất cả vẻ lộng lẫy của con gái Si-ôn

giờ đây đã tiêu tan.

Vua chúa nó như con nai đói

tìm không ra đồng cỏ.

Họ không còn đủ sức để chạy

mong tránh khỏi sự săn đuổi của quân thù.

7Trong ngày buồn khổ và lang thang,

Giê-ru-sa-lem nhớ lại thời vàng son xưa cũ.

Nhưng bây giờ nằm trong tay quân thù,

nào ai ra tay giúp đỡ.

Quân thù hả hê ngắm Giê-ru-sa-lem điêu tàn,

và nhạo cười thành phố hoang vu.

8Giê-ru-sa-lem đã phạm tội nặng nề

vì vậy bị ném đi như tấm giẻ rách bẩn thỉu.

Những người kính nể nàng nay khinh khi,

vì thấy nàng bị lột trần và nhục nhã.

Nàng chỉ có thể thở dài

và rút lui tìm nơi giấu mặt.

9Sự nhơ nhuốc dính vào váy nàng,

nàng chẳng lo nghĩ về ngày mai.

Giờ đây nàng nằm trong bùn lầy,

không một ai kéo nàng ra khỏi.

Nàng kêu khóc: “Chúa Hằng Hữu ơi, xin đoái xem cơn hoạn nạn con

vì quân thù đã chiến thắng!”

10Quân thù cướp đoạt mọi bảo vật của nàng,

lấy đi mọi thứ quý giá của nàng.

Nàng thấy các dân tộc nước ngoài xông vào Đền Thờ thánh của nàng,

là nơi Chúa Hằng Hữu cấm họ không được vào.

11Dân chúng vừa than thở vừa đi tìm bánh.

Họ đem vàng bạc, châu báu đổi lấy thức ăn để mong được sống.

Nàng than thở: “Ôi Chúa Hằng Hữu, xin đoái nhìn con,

vì con bị mọi người khinh dể.

12Này, các khách qua đường, các người không chạnh lòng xót thương sao?

Các người xem có dân tộc nào bị buồn đau như dân tộc tôi,

chỉ vì Chúa Hằng Hữu hình phạt tôi

trong ngày Chúa nổi cơn giận phừng phừng.

13Từ trời, Chúa đổ lửa xuống, thiêu đốt xương cốt tôi.

Chúa đặt cạm bẫy trên đường tôi đi và đẩy lui tôi.

Chúa bỏ dân tôi bị tàn phá,

tiêu tan vì bệnh tật suốt ngày.

14Chúa dệt tội lỗi tôi thành sợi dây

để buộc vào cổ tôi ách nô lệ.

Chúa Hằng Hữu tiêu diệt sức mạnh tôi và nộp mạng tôi cho quân thù;

tôi không tài nào chống cự nổi.

15Chúa Hằng Hữu đã đối xử khinh miệt với dũng sĩ của tôi.

Một quân đội đông đảo kéo đến

theo lệnh Ngài để tàn sát các trai trẻ.

Chúa Hằng Hữu giẫm đạp các trinh nữ Giu-đa

như nho bị đạp trong máy ép.

16Vì tất cả điều này nên tôi khóc lóc;

nước mắt đầm đìa trên má tôi.

Không một ai ở đây an ủi tôi;

người làm tươi tỉnh tâm linh tôi đã đi xa.

Con cái tôi không có tương lai

vì quân thù chiến thắng.”

17Giê-ru-sa-lem đưa tay lên kêu cứu,

nhưng không một ai an ủi.

Chúa Hằng Hữu đã ra lệnh

cho các dân tộc lân bang chống lại dân tôi.

“Hãy để các nước lân bang trở thành kẻ thù của chúng!

Hãy để chúng bị ném xa như tấm giẻ bẩn thỉu.”

18Giê-ru-sa-lem nói: “Chúa Hằng Hữu là công chính,

vì tôi đã phản nghịch Ngài.

Hãy lắng nghe, hỡi các dân tộc;

hãy nhìn cảnh đau khổ và tuyệt vọng của dân tôi,

vì các con trai và các con gái tôi

đều bị bắt đi lưu đày biệt xứ.

19Tôi cầu xin các nước liên minh giúp đỡ,

nhưng họ đã phản bội tôi.

Các thầy tế lễ và các lãnh đạo tôi

đều chết đói trong thành phố,

dù họ đã tìm kiếm thức ăn

để cứu mạng sống mình.

20Lạy Chúa Hằng Hữu, xin đoái xem nỗi đau đớn của con!

Lòng con bối rối

và linh hồn con đau thắt,

vì con đã phản loạn cùng Chúa.

Trên đường phố có gươm đao chém giết,

trong nhà chỉ có chết chóc tràn lan.

21Xin nghe tiếng con thở than,

nhưng chẳng một người nào an ủi con.

Khi quân thù nghe tin con hoạn nạn.

Họ mừng rỡ vì tay Chúa đánh phạt con.

Vào đúng thời điểm Ngài ấn định,1:21 Nt Chúa sẽ đem lại ngày mà Chúa đã gọi

để họ cùng chịu hoạn nạn như con.

22Xin xem tất cả tội ác họ đã làm, lạy Chúa Hằng Hữu.

Xin hình phạt họ,

như Ngài hình phạt con

vì tất cả tội lỗi con.

Con than thở triền miên,

và tim con như dừng lại.”