Luganda Contemporary Bible

Engero 1:1-33

11:1 a 1Bk 4:29-34 b Nge 10:1; 25:1; Mub 1:1Engero za Sulemaani, mutabani wa Dawudi, kabaka wa Isirayiri.

2Yaziwandiika okuyigiriza abantu okuba n’amagezi n’okuyiga,

era n’okutegeera ebigambo eby’obulabufu; eby’obulamu eby’amagezi n’empisa.

3Sulemaani yayagala abantu okuba n’empisa, n’obulamu obw’amagezi,

okukolanga ebituufu, n’okubeera abenkanya n’okugobereranga ensonga;

41:4 a Nge 8:5 b Nge 2:10-11; 8:12okuyigiriza amagezi abatalina bumanyirivu,

n’abavubuka okufuna okumanya n’okutegeera.

51:5 Nge 9:9N’abantu ab’amagezi nabo bwe bawulira beeyongere okuyiga

n’abategeevu beeyongere okubangulwa.

61:6 a Zab 49:4; 78:2 b Kbl 12:8Era engero zino zaawandiikibwa okutegeera engero,

enjogera n’ebikokyo.

71:7 Yob 28:28; Zab 111:10; Nge 9:10; 15:33; Mub 12:13Kale mu kutya Mukama amagezi mwe gasookera,

naye abasirusiru banyooma amagezi n’okulagirirwa.

Amagezi eri Abavubuka

81:8 a Nge 4:1 b Nge 6:20Mwana wange ossangayo omwoyo eri ebiragiro bya kitaawo,

era tolekanga kukuutira kwa maama wo;

91:9 Nge 4:1-9bijja kuba ngule eneeweesanga omutwe gwo ekitiibwa,

n’emikuufu mu bulago bwo.

101:10 a Lub 39:7 b Ma 13:8 c Nge 16:29; Bef 5:11Mwana wange abakozi b’ebibi bwe bakusendasendanga,

tokkirizanga.

111:11 Zab 10:8Bwe bakugambanga nti, “Tugende ffenna twesanyuse,

tunyage, tubbe n’okutta;

tokkirizanga;

121:12 Zab 28:1ng’entaana bw’emira abantu, naffe tubamire tutyo nga bakyali balamu,

era nga balamba, ng’abagenda mu bunnya obuwanvu;

13nga twefunira eby’obugagga bye tutakoleredde,

ne tujjuza amayumba gaffe obugagga obubbe;

14ng’ababi batuyita tubeegatteko,

tugabane kyenkanyi ebibbe n’ebinyage.”

151:15 a Zab 119:101 b Zab 1:1; Nge 4:14Mwana wange totambuliranga wamu nabo,

era ekigere kyo kiziyize okukwatanga ekkubo lyabwe:

161:16 Nge 6:18; Is 59:7Kubanga ebigere byabwe bidduka bunnambiro okukola ebibi,

era kibanguyira okuyiwa omusaayi.

17Nga kuba kumala biseera okutega omutego,

ng’ekinyonyi ky’oyagala okukwata kikulaba,

18naye abantu ng’abo baba beetega bokka,

baba beetega omutego ogunaabakwasa bo bennyini.

191:19 Nge 15:27Bwe lityo bwe libeera ekkubo lya buli muntu anoonya okugaggawalira mu bukyamu.

Obugagga obw’engeri eyo busaanyaawo obulamu bw’abo ababufuna.

Okulabula Eri Abanyooma Amagezi

201:20 Nge 8:1; 9:1-3, 13-15Amagezi galeekaanira waggulu mu nguudo;

gayimusa amaloboozi gaago, mu bifo ebigazi eby’omu bibuga.

21Ne galeekaanira waggulu, mu kifo enguudo ennene we zisisinkanira,

era gasinzira mu miryango gy’ekibuga ne googera:

221:22 Nge 8:5; 9:4, 16Mulituusa ddi mmwe ab’amagezi amatono obutayagala kweyongera kuyiga by’amagezi,

nammwe ab’amalala okunyoomanga eby’amagezi n’abasirusiru okukyawanga okumanya?

23Kale singa muwuliriza okunenya kwange,

laba, ndifuka omutima gwange

n’ebirowoozo byange mu mmwe.

241:24 Is 65:12; 66:4; Yer 7:13; Zek 7:11Kubanga na bayita ne mugaana okuwuliriza,

ne ngolola omukono ne wataba n’omu afaayo,

25era ne mutafaayo ku magezi ge nabawa,

era ne mugaana okubuulirira kwange kwonna,

261:26 a Zab 2:4 b Nge 6:15; 10:24kale nange ndibasekerera nga muli mu nnaku,

era mbakudaalire ng’entiisa ebagwiridde.

27Entiisa bw’eribajjira ng’omuyaga omungi,

ennaku n’okubonaabona, okulumwa n’obubalagaze,

281:28 a 1Sa 8:18; Is 1:15; Yer 11:11; Mi 3:4 b Yob 27:9; Nge 8:17; Ez 8:18; Zek 7:13kale balinkoowoola, naye siriyitaba;

balinnoonya obutaweera naye ne batandaba.

291:29 Yob 21:14Kubanga baakyawa okuyigirizibwa, n’okumanya,

era ne bamalirira obutatya Mukama.

301:30 nny 25; Zab 81:11Ne bagaana okuwuliriza amagezi gange;

ne banyooma okunenya kwange kwonna.

311:31 Yob 4:8; Nge 14:14; Is 3:11; Yer 6:19Kyebaliva balya ebibala eby’ekkubo lyabwe ebbi,

era ne bajjula ebibala eby’enkwe zaabwe.

321:32 Yer 2:19Obusirusiru bulitta ab’amagezi amatono

n’obutafaayo bulizikiriza abasirusiru,

331:33 a Zab 25:12; Nge 3:23 b Zab 112:8naye buli ampuliriza anaabeeranga mirembe,

ng’agumye nga talina kutya kwonna.

Vietnamese Contemporary Bible

Châm Ngôn 1:1-33

Mục Đích của Châm Ngôn

1Đây là những châm ngôn của Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, vua Ít-ra-ên.

2Để người ta tìm đến khôn ngoan và tiếp thu lời khuyên dạy,

cùng phân biện được tri thức.

3Để đạt đến một đời sống kỷ luật và cẩn trọng,

hành động phải lẽ, công bằng, và ngay thẳng.

4Để giúp người đơn sơ được sáng suốt,

và người trẻ tuổi hiểu biết và thận trọng.

5Người khôn học hỏi châm ngôn để thêm khôn.

Người hiểu biết thấy được đường đi nước bước

6nếu biết ứng dụng châm ngôn, ngụ ngôn

dùng những lời khôn ngoan và những câu đố thâm trầm của hiền nhân.

7Kính sợ Chúa Hằng Hữu là khởi đầu của mọi tri thức,

chỉ có người dại mới coi thường khôn ngoan và huấn thị.

Lời Khuyên của Người Cha: Tìm Kiếm Sự Khôn Ngoan

8Con ơi, phải nghe lời cha khuyên dạy.

Đừng bỏ khuôn phép của mẹ con.

9Đó là trang sức duyên dáng trên đầu con

và dây chuyền xinh đẹp nơi cổ con.

10Con ơi, khi người tội lỗi quyến rũ,

con đừng nghe theo!

11Khi họ bảo: “Hãy đến với chúng ta.

Rình rập và giết người!

Lén hại người lương thiện vô tội!

12Ta sẽ nuốt sống nó như âm phủ;

nuốt trọn như người xuống huyệt sâu.

13Ta sẽ lấy đủ mọi của báu.

Chất của cướp đầy nhà.

14Bạn sẽ cùng chúng ta rút thăm chia của;

rồi tất cả đều chung một túi tiền.”

15Thì con ơi, đừng nghe theo họ!

Chân con phải tránh xa đường họ đi.

16Vì họ nhanh chân theo điều ác.

Vội vàng ra tay đổ máu.

17Khi người giăng lưới bắt chim,

chim khôn bay thoát.

18Nhưng bọn người này tự giăng bẫy;

rồi sa vào bẫy do chính mình giăng ra.

19Đó là số phận người ham lợi bất nghĩa;

lợi ấy sẽ tiêu diệt mạng sống họ.

Sự Khôn Ngoan Kêu Lên Ngoài Đường

20Khôn ngoan lên tiếng ngoài đường.

Loan truyền khắp phố phường.

21Kêu gọi nơi công cộng,

tại cổng thành, trong đô thị:

22“Hỡi người khờ dại, đến bao giờ

ngươi mới thôi chìm đắm u mê?

Đến khi nào người chế nhạo mới bỏ thói khinh khi?

Và người dại thù ghét tri thức đến chừng nào?

23Hãy đến và nghe ta sửa dạy.

Ta sẽ ban thần trí khôn ngoan

để con thông suốt lời ta.

24Nhưng, dù ta kêu gọi, các ngươi vẫn từ nan.

Ta đưa tay chờ đợi, cũng không ai quan tâm.

25Không ai để ý lời ta khuyên răn

hay chịu nghe lời ta quở trách.

26Nên khi các người lâm nạn, ta sẽ cười!

Và chế giễu khi các người kinh hãi—

27khi kinh hoàng vụt đến tựa phong ba,

khi tai ương xâm nhập như bão tố,

và nguy nan cùng khổ ngập tràn.

28Họ sẽ kêu cầu ta, nhưng ta chẳng đáp lời.

Họ sẽ tìm kiếm ta, nhưng không sao gặp được.

29Chính vì họ thù ghét tri thức

và không chịu kính sợ Chúa Hằng Hữu.

30Họ không muốn nghe ta khuyên dạy

và khinh bỉ mọi lời quở trách.

31Vì thế, họ sẽ hứng chịu kết quả công việc mình,

lãnh trọn quả báo mưu mô mình.

32Người ngây thơ chết vì lầm đường lạc lối.

Người dại dột bị diệt vì tự thị tự mãn.

33Nhưng ai nghe ta sẽ sống bình an,

không lo tai họa.”