Asante Twi Contemporary Bible

Yoɛl 1:1-20

1Awurade asɛm a ɛbaa Petuel babarima Yoɛl so nie.

Ɛda A Ntutummɛ No Bɛba

2Montie saa asɛm yi, mo mpanimfoɔ;

montie, mo a mote asase no so nyinaa.

Asɛm bi a ɛte sɛi asi mo mmerɛ so

anaa mo mpanimfoɔ mmerɛ so pɛn?

3Monka nkyerɛ mo mma,

na mo mma nso nka nkyerɛ wɔn mma

na wɔn mma nso nka nkyerɛ awoɔ ntoatoasoɔ a ɛdi soɔ no.

4Deɛ ntutummɛ kuo no gyaeɛ no

ntutummɛ akɛseɛ no awe

deɛ ntutummɛ akɛseɛ no gyaeɛ no

ntutummɛ nkumaa no awe

deɛ ntutummɛ nkumaa no gyaeɛ no

ntutummɛ afoforɔ awe.

5Mo asabofoɔ, monyane, na monsu!

Mo a monom bobesa nyinaa, montwa adwo;

montwa adwo ɛfiri sɛ nsã foforɔ no

wɔayi afiri mo ano.

6Ɔman bi atu mʼasase so sa

ɛdɔm a wɔyɛ den na wɔntumi nkane wɔn;

wɔn se te sɛ gyata se

na wɔwɔ gyatabereɛ sebɔmmɔfoɔ.

7Wɔasɛe me bobe

ne me borɔdɔma nnua.

Wawaawae nnua no ho bona,

ato agu

agya ne mman a ayɛ fitaa hɔ.

8Di awerɛhoɔ sɛ ababaawa a ɔfira ayitoma

na ɔresu ne kunu a ɔwaree no ne mmabaawaberɛ mu.

9Aduane ne ahwiesa afɔrebɔdeɛ,

wɔayi afiri Awurade efie.

Asɔfoɔ no retwa adwoɔ,

wɔn a wɔsom wɔ Awurade anim no.

10Mfuo asɛe,

asase no so awo wesee

aduane no asɛe

nsã foforɔ no awe

ngo nyinaa asa.

11Mo ani nwu, mo akuafoɔ,

mo ntwa adwo, mo a modua bobe;

Monsi apinie mma ayuo ne atokoɔ,

ɛfiri sɛ otwaberɛ no asɛe.

12Bobe no akusa

na borɔdɔma nnua no awuwu.

Ateaa nnua, mmɛdua, aperɛ ne

nnua a ɛwɔ mfuo no so nyinaa ahye.

Nokorɛm, anigyeɛ a nnipa wɔ no

atu ayera.

13Momfira ayitoma na monni awerɛhoɔ, Ao asɔfoɔ;

mo a mosom afɔrebukyia anim, montwa adwo.

Momfira ayitoma mmɛsiri pɛ

mo a mosom Onyankopɔn anim;

ɛfiri sɛ aduane ne ahwiesa afɔrebɔdeɛ no

ɛto atwa wɔ Onyankopɔn efie.

14Mommɔ mmuadadie kronkron ho dawuro;

momfrɛ nhyiamu kronkron.

Monfrɛ mpanimfoɔ

ne wɔn a wɔte asase no so nyinaa

mmra Awurade mo Onyankopɔn efie

na wɔmmesu mfrɛ Awurade.

15Ɛda no aba!

Awurade ɛda no abɛn;

Ɛbɛba sɛ ɔsɛeɛ a ɛfiri Otumfoɔ hɔ.

16Yɛnnhunuu sɛ aduane ho ayɛ na,

sɛ anigyeɛ ne ahosɛpɛ nso to atwa

wɔ yɛn Onyankopɔn efie anaa?

17Aba no wu wɔ asase wesee mu,

adekoradan abubu,

aburopata nso ho nni mfasoɔ,

ɛfiri sɛ nnuane no ahye.

18Sɛdeɛ anantwie su!

Na anantwikuo kyinkyini kwa.

Nnwankuo mpo rebrɛ

ɛfiri sɛ wɔnni adidibea.

19Awurade, wo na mesu frɛ wo,

ɛfiri sɛ ogya ahye ɛserɛ so adidibea

na ogyaframa ahye mfuo no so nnua nyinaa.

20Wiram mmoa mpo pere hwehwɛ wo.

Nsuwansuwa awewe,

na ogya ahye ɛserɛ so adidibea.

Vietnamese Contemporary Bible

Giô-ên 1:1-20

1Chúa Hằng Hữu ban sứ điệp này cho Giô-ên, con trai của Phê-thu-ên.

Than Khóc về Nạn Châu Chấu

2Nghe đây, hỡi các lãnh đạo của toàn dân.

Hãy nghe, hỡi tất cả cư dân sống trong xứ.

Trong mọi thời của các ngươi,

có điều nào như thế xảy ra trước đó không?

3Hãy thuật lại cho con cháu các ngươi,

để con cháu các ngươi kể lại cho con cháu của chúng.

Tiếp tục truyền lại từ đời này sang đời khác.

4Sau khi sâu keo cắn phá mùa màng

thì cào cào ăn những gì còn lại!

Kế đến những gì cào cào bỏ lại, sâu lột vỏ ăn,

rồi những gì sót lại thì châu chấu sẽ ăn.

5Hãy tỉnh thức, hỡi những kẻ say sưa và khóc lóc!

Hãy sầu than, hỡi những kẻ nghiện rượu!

Vì các vườn nho bị tàn phá,

rượu nho ngon ngọt không còn nữa.

6Một đội quân châu chấu xâm lấn đất nước Ta,

một đạo quân kinh hoàng không đếm xuể.

Răng chúng như răng sư tử,

nanh như nanh sư tử cái.

7Chúng cắn nát các cây nho Ta

và tàn phá cây vả Ta,

chúng lột sạch từ gốc đến ngọn,

để trơ những cành trắng phếu.

8Hãy than khóc như thiếu phụ mặc bao gai

than khóc cho cái chết của chồng mình.

9Vì không còn lúa gạo và rượu nho

để dâng lễ trong Đền Thờ Chúa Hằng Hữu.

Vì vậy các thầy tế lễ đều sầu não,

những người phục vụ Chúa Hằng Hữu đều thở than.

10Đồng ruộng đã bị phá hoang,

đất vườn tiêu điều.

Lúa thóc bị hủy hoại,

nho bị héo khô,

và dầu ô-liu cũng cạn kiệt.

11Hãy tuyệt vọng, hỡi tất cả nông gia!

Hãy than van, hỡi những người trồng nho!

Hãy khóc lóc vì lúa mì và lúa mạch—

tất cả mùa màng ruộng đồng—đều đã mất hết.

12Các dây nho đã khô,

và cây vả đã héo.

Cây thạch lựu, cây chà là, và cây táo—

tất cả cây trái—đều đã úa tàn.

13Hãy mặc áo bao gai và kêu khóc, hỡi các thầy tế lễ!

Hãy than van, hỡi những người phục vụ nơi bàn thờ!

Hãy đến, mặc áo bao gai và than khóc suốt đêm,

hỡi những người phục vụ Đức Chúa Trời của tôi.

Vì không còn lễ chay và lễ quán

được dâng lên trong Đền Thờ Đức Chúa Trời các ngươi nữa.

14Hãy công bố1:14 Nt thánh hóa hoặc biệt riêng ngày kiêng ăn;

hãy kêu gọi toàn dân tham dự buổi lễ trọng thể.

Hãy mời các trưởng lão

và toàn thể dân chúng của xứ

vào Đền Thờ Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của các ngươi,

và than khóc với Chúa tại đó.

15Ngày của Chúa Hằng Hữu đã gần,

ngày hủy diệt của Đấng Toàn Năng đã đến.

Ôi, ngày ấy đáng sợ biết bao!

16Thực phẩm chúng ta biến mất ngay trước mắt.

Không còn lễ hội vui mừng trong nhà của Đức Chúa Trời chúng ta.

17Hạt giống mục nát trong lòng đất,

và mùa màng thất thu.

Các kho thóc đều trống rỗng,

và các vựa lúa đều tan biến.

18Gia súc gầm rống lên vì đói!

Các bầy bò đi lang thang xiêu xẹo

vì không còn cỏ để ăn.

Các bầy chiên và bầy dê kêu trong đau đớn.

19Thưa Chúa Hằng Hữu, xin cứu giúp chúng con!

Lửa đã thiêu đốt các bãi cỏ ngoài đồng nội,

làm tàn rụi cây cối trong ruộng vườn.

20Các thú rừng cũng kêu van với Chúa

vì sông suối cạn nguồn,

và lửa đã thiêu nuốt đồng cỏ nơi hoang mạc.