Ang Pulong Sa Dios

Deuteronomio 10:1-22

Ang Ikaduhang Lagpad nga mga Bato

(Exo. 34:1-10)

1“Niadtong higayona miingon ang Ginoo kanako, ‘Pagsapsap ug duha ka lagpad nga bato sama niadtong nahauna ug tungas kanako dinhi sa bukid. Paghimo usab ug kahon nga kahoy. 2Isulat ko niining lagpad nga mga bato ang mga pulong nga gisulat ko sa nahaunang lagpad nga mga bato nga imong gibuak. Unya isulod mo kini sa kahon.’

3“Busa naghimo ako ug kahon nga akasya ug nagsapsap ug duha ka lagpad nga bato sama niadtong nahauna, ug mitungas ako sa bukid dala ang duha ka bato. 4Gisulat sa Ginoo niining lagpad nga mga bato ang iyang gisulat kaniadto, ang Napulo ka Sugo nga gihatag niya kaninyo sa dihang misulti siya gikan sa taliwala sa kalayo didto sa bukid niadtong adlaw nga nagtigom kamo. Sa dihang nahatag na kini sa Ginoo kanako, 5nanaog ako sa bukid ug gisulod ko kini sa kahon nga akong gihimo, sumala sa gimando kanako sa Ginoo, ug hangtod karon atua pa kini didto.”

6Nanglakaw ang mga Israelinhon gikan sa mga atabay sa katawhan sa Jaakan paingon sa Mosera. Didto namatay si Aaron ug didto usab nila siya gilubong. Ug si Eleazar nga iyang anak mao ang mipuli kaniya ingon nga pangulong pari. 7Gikan didto miadto sila sa Gudgoda ug unya sa Jotbata, usa ka dapit nga may mga lugut. 8Niadtong higayona gipili sa Ginoo ang tribo ni Levi sa pagdala sa sudlanan sa Kasabotan sa Ginoo, sa pag-alagad kaniya, ug sa pagbendisyon sa mga tawo sa iyang ngalan. Hangtod karon mao kini ang ilang buluhaton. 9Mao kana nga ang mga kaliwat ni Levi walay bahin sa yuta sa ilang isigka-Israelinhon. Ang Ginoo mismo mao ang ilang bahin sumala sa giingon sa Ginoo nga inyong Dios.

10“Sama sa gihimo ko kaniadto, nagpabilin ako sa bukid sulod sa 40 ka adlaw ug 40 ka gabii, ug sa makausa pa, gipamatian ako sa Ginoo ug wala niya kamo laglaga. 11Miingon siya kanako, ‘Lakaw, ug pangulohi ang mga Israelinhon sa pagsulod ug sa pagpanag-iya sa yuta nga akong gisaad nga ihatag sa inyong mga katigulangan.’ ”

Kahadloki Ninyo ang Ginoo

12“Ug karon, katawhan sa Israel, ang gipangayo lang kaninyo sa Ginoo nga inyong Dios mao nga motahod kamo kaniya, magkinabuhi subay sa iyang pamaagi, mahigugma kaniya, mag-alagad kaniya sa tibuok ninyong kasingkasing ug kalag, 13ug magtuman sa iyang mga sugo ug mga tulumanon nga gihatag ko kaninyo karong adlawa alang sa inyong kaayohan.

14“Iya sa Ginoo nga inyong Dios ang kalangitan, bisan ang labing taas nga langit, apil ang kalibotan ug ang tanang anaa niini. 15Apan gipili sa Ginoo ang inyong mga katigulangan nga iyang higugmaon, ug gipili niya kamo nga ilang mga kaliwat labaw sa tanang nasod, ug hangtod karon kamo gihapon ang iyang gipili nga katawhan. 16Busa hinloi ninyo ang inyong kasingkasing ug ayaw na kamo pagpagahi sa inyong mga ulo. 17Kay ang Ginoo nga inyong Dios mao ang Dios sa mga dios ug Ginoo sa mga ginoo. Gamhanan siya ug katingalahan nga Dios. Wala siyay pinalabi ug dili siya modawat ug suborno. 18Gipanalipdan niya ang katungod sa mga ilo ug mga biyuda. Gihigugma niya ang mga langyaw ug gihatagan niya sila sa mga pagkaon ug mga bisti. 19Busa higugmaa usab ninyo ang mga dumuduong, kay kamo mga dumuduong usab kaniadto sa Ehipto. 20Tahora ninyo ang Ginoo nga inyong Dios ug alagari ninyo siya. Pabilin kamo kaniya ug manumpa kamo sa iya lang nga ngalan. 21Dayega ninyo siya, kay siya ang inyong Dios nga naghimo sa katingalahang mga butang nga inyo mismong nakita. 22Sa pag-adto sa inyong mga katigulangan sa Ehipto, 70 lang silang tanan, apan karon gipadaghan kamo sa Ginoo nga inyong Dios sama kadaghan sa mga bitoon sa langit.”

Vietnamese Contemporary Bible

Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:1-22

Bảng Luật Pháp Mới

1“Lúc ấy, Chúa Hằng Hữu phán bảo tôi: ‘Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước, và làm một cái hòm đựng bằng gỗ, rồi lên núi gặp Ta, 2Ta sẽ chép vào hai bảng này những điều đã được viết trên hai bảng cũ, rồi đặt hai bảng này vào Hòm Giao Ước.’

3Vâng lời Chúa, tôi đóng một cái hòm bằng gỗ keo, đục lại hai bảng đá như hai bảng cũ, rồi cầm hai bảng đá lên núi. 4Chúa Hằng Hữu lại viết Mười Điều Răn (những điều này đã được Ngài công bố trên núi, từ trong đám lửa trước toàn thể chúng dân hôm ấy) vào hai bảng đá rồi trao cho tôi. 5Tôi quay xuống núi, đặt hai bảng đá vào Hòm Giao Ước đóng sẵn, nay vẫn còn đó, đúng như lời Chúa Hằng Hữu phán dạy tôi.

6(Sau đó, người Ít-ra-ên lại ra đi, từ Bê-rốt Bê-nê-gia-can đến Mô-sê-rốt. Tại đây, A-rôn qua đời và được an táng. Con A-rôn là Ê-lê-a-sa thay thế chức vụ tế lễ của cha mình. 7Từ đó, toàn dân đi đến Gút-gô-đa, và từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha, là nơi có nhiều suối nước. 8Lúc ấy, Chúa bắt đầu biệt riêng người Lê-vi vào việc khiêng Hòm Giao Ước của Chúa Hằng Hữu, đứng trước mặt Chúa Hằng Hữu để phục vụ Ngài, và để nhân danh Ngài chúc phước, như họ đang làm ngày nay. 9Vì thế, đại tộc Lê-vi không hưởng một phần đất nào như các đại tộc khác, vì họ có Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em, làm cơ nghiệp, như lời Ngài đã dạy.)

10Trong dịp lên núi lần sau, tôi cũng ở lại bốn mươi ngày đêm như lần trước, và Chúa Hằng Hữu nghe lời cầu khẩn của tôi, không tuyệt diệt anh em. 11Chúa Hằng Hữu phán cùng tôi: ‘Hãy đứng lên và đi trước toàn dân, cho đến khi họ tới vùng đất Ta hứa với tổ tiên họ.’”

Kêu Gọi Yêu Thương và Vâng Lời

12“Anh em ơi, điều Chúa Hằng Hữu là Đức Chúa Trời đòi hỏi anh em là phải kính sợ Chúa, bước đi trong mọi đường lối Ngài, hết lòng, hết linh hồn yêu mến, phụng sự Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em. 13Tuân hành tất cả điều răn và luật lệ của Ngài. Những điều luật tôi truyền lại cho anh em hôm nay là vì lợi ích của chính anh em đó.

14Tất cả vũ trụ trời đất đều thuộc về Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em 15Thế mà Ngài đem lòng yêu thương tổ tiên anh em, và nhân đó, chọn anh em trong muôn dân, như anh em thấy ngày nay. 16Vậy, hãy tẩy sạch lòng mình đi. Đừng ngoan cố nữa.

17Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em, là Thần của các thần, Chúa của các chúa, là Đức Chúa Trời vĩ đại, có quyền lực uy nghi đáng sợ. Ngài không thiên vị, không nhận hối lộ. 18Ngài thực thi công lý cho người mồ côi, góa bụa. Ngài yêu thương ngoại kiều, cho họ thức ăn áo mặc. 19Anh em cũng phải thương người tha hương ngoại kiều, vì chính anh em đã từng kiều ngụ ở Ai Cập trước kia. 20Phải kính sợ Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của anh em, phụng sự Ngài, khắng khít với Ngài, và chỉ thề nguyện bằng Danh Ngài. 21Ngài là Đối Tượng tôn vinh ca ngợi, là Đức Chúa Trời của anh em. Ngài đã làm những việc vĩ đại phi thường, chính mắt anh em đã chứng kiến. 22Ngày tổ tiên ta xuống Ai Cập, gia đình chỉ có vỏn vẹn bảy mươi người. Thế mà ngày nay, Chúa đã làm cho anh em đông như sao trên trời!”