Akuapem Twi Contemporary Bible

Ɔsɛnkafo 1:1-18

Biribiara Yɛ Adehuhuw

1Eyinom ne nsɛm a Ɔsɛnkafo, ɔhene Dawid babarima a ɔyɛ ɔhene wɔ Yerusalem se:

2“Ahuhude! Ahuhude!”

Ɔsɛnkafo no na ose.

“Ahuhude mu ahuhude

Biribiara yɛ ahuhude.”

3Dɛn na onipa nya fi nʼadwumayɛ nyinaa mu,

nea okum ne ho yɛ no owia so no?

4Awo ntoatoaso ba na ɛkɔ,

nanso asase tim hɔ daa.

5Owia pue na owia kɔtɔ,

na ɛyɛ ntɛm kɔ nea epue fii hɔ no.

6Mframa bɔ kɔ anafo fam

na ɛdan hwɛ atifi fam;

ekyinkyin kɔ baabiara,

na ɛsan bɔ fa ne kwan so.

7Nsubɔnten nyinaa sen kogu po mu,

nanso po nyɛ ma da.

Faako a nsubɔnten no fi no

hɔ na wɔsan kɔ bio.

8Biribiara yɛ ɔbrɛ

a ɛboro nea obi bɛka so.

Ani nhwɛ ade nwie da

na aso nso ntie nsɛm mma ɛnyɛ mma da.

9Nea aba no bɛba bio,

nea wɔayɛ no, wɔbɛyɛ bio;

ade foforo biara nni owia yi ase.

10Biribi wɔ hɔ a wobetumi aka wɔ ho se:

“Hwɛ! eyi yɛ ade foforo” ana?

Ɛwɔ hɔ dedaw fi tete nteredee;

ɛwɔ hɔ ansa na wɔwoo yɛn.

11Wɔnkae tetefo no,

na wɔn a wonnya nnwoo wɔn no nso,

wɔn a wobedi wɔn akyi no

renkae wɔn.

Nimdeɛ Yɛ Ahuhude

12Me, Ɔsɛnkafo, na meyɛ Israelhene wɔ Yerusalem. 13Mituu me ho sii hɔ sɛ mede nimdeɛ besua ayɛ nhwehwɛmu wɔ biribiara a wɔyɛ no owia yi ase ho. Adesoa duruduru a Onyankopɔn de ato adesamma so! 14Mahu biribiara a wɔyɛ no owia yi ase; ne nyinaa nka hwee, ɛte sɛnea obi tu mmirika taa mframa.

15Nea akyea no wontumi nteɛ;

na nea enni hɔ no wontumi nkan.

16Mekaa wɔ me tirim se, “Hwɛ, manyin na manya nimdeɛ bebree asen obiara a watena Yerusalem ahengua so ansa na merebedi ade. Manya nhumu ne nimdeɛ mu osuahu.” 17Afei meyɛɛ mʼadwene sɛ mɛhwehwɛ na mate nimdeɛ, ne adammɔsɛm ne nkwaseasɛm ase. Nanso mihuu sɛ eyi nso te sɛnea obi tu mmirika taa mframa.

18Nimdeɛ bebree de awerɛhow na ɛba;

nyansa dɔɔso a, awerɛhowdi dɔɔso.

Vietnamese Contemporary Bible

Truyền Đạo 1:1-18

1Lời của Người Truyền Đạo, con Vua Đa-vít, cai trị tại Giê-ru-sa-lem.

Cuộc Đời Hư Ảo

2Người Truyền Đạo nói: “Mọi thứ đều vô nghĩa! Hoàn toàn vô nghĩa!”

3Con người làm lụng khó nhọc dưới ánh mặt trời để hưởng được gì? 4Thế hệ đến và thế hệ đi, nhưng trái đất vẫn không bao giờ thay đổi. 5Mặt trời mọc và mặt trời lặn, xoay vần không dứt. 6Gió thổi hướng nam rồi thổi hướng bắc. Quanh đi vòng lại, gió thổi không ngừng. 7Sông đổ mãi vào biển nhưng biển chẳng hề đầy. Nước trở về các sông và lại đổ vào biển. 8Vạn vật mỏi mòn không tả xiết. Chúng ta thấy nhiều nhưng vẫn không hài lòng. Chúng ta nghe nhiều nhưng vẫn không mãn nguyện.

9Việc gì đã xảy ra, sẽ còn tái diễn. Điều gì làm ngày nay, người xưa cũng đã làm rồi. Chẳng có gì mới dưới mặt trời. 10Thỉnh thoảng có người nói: “Có vài điều mới!” Nhưng thật ra nó đã có; không có gì thật sự mới. 11Chúng ta không nhớ những việc xảy ra thời trước, và trong thế hệ mai sau, cũng chẳng ai hồi tưởng việc chúng ta làm hôm nay.

Sự Vô Nghĩa của Khôn Ngoan

12Tôi, Người Truyền Đạo, là vua của Ít-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem. 13Tôi chuyên tâm tìm hiểu và dùng sự khôn ngoan để khảo sát những sự việc dưới trời. Tôi sớm khám phá rằng Đức Chúa Trời đã giao mọi việc lao khổ cho loài người. 14Tôi nhận thấy mọi công trình dưới mặt trời, và thật, tất cả đều vô nghĩa—như đuổi theo luồng gió.

15Vật gì đã bị cong vẹo không thể uốn thẳng được?

Đã thiếu hụt, làm sao có thể đếm được?

16Tôi tự nhủ: “Kìa, tôi khôn ngoan hơn các vị vua cai trị tại Giê-ru-sa-lem trước tôi. Tôi có kiến thức và sự hiểu biết hơn bất cứ ai trong họ.”1:16 Nt các tiên đế tại Giê-ru-sa-lem 17Vậy, tôi cố gắng học hỏi từ sự khôn ngoan đến sự điên rồ và dại dột. Nhưng qua kinh nghiệm, tôi phải nhìn nhận điều đó cũng chẳng khác gì đuổi theo luồng gió.

18Càng khôn ngoan càng nhiều sầu khổ.

Càng hiểu biết càng nhiều buồn đau.