Swedish Contemporary Bible

1 Moseboken 1:1-31

Skapelsen

(1:1—2:25)

Hur allting började

1I början skapade Gud himlarna och jorden.1:1 himlarna och jorden skulle också kunna översättas allting. I hebreiskan uttrycks totalitet vanligen med hjälp av motpoler. 2Jorden var öde och tom, mörker låg över djupet, och Guds Ande1:2 Ande och vind är samma ord i hebreiskan; här är det dock tydligt att det är det förstnämnda som avses. svävade över vattnen.

3Gud sa: ”Ljus, bli till!” Då blev det ljust. 4Gud såg att ljuset var gott och skilde det från mörkret. 5Han kallade ljuset dag, och mörkret kallade han natt. Det blev kväll och det blev morgon. Det var den första dagen1:5 Eller en dag, ett dygn. Ordningstalet första används inte i hebreiskan när det inte funnits någon dag innan. Först efter denna ”proto-dag” börjar ordningstal användas (”den andra” osv.). Dag ett var tänkt som mått på alla kommande dagar/dygn. I skapelseberättelsen används dag och dygn synonymt här..

6Gud sa: ”Vattnet ska dela sig för att forma himlavalvet där uppe och haven där nere.” 7Gud skapade på så sätt himlavalvet, och skilde vattnet ovanför från vattnet nedanför. Det blev så. 8Gud kallade valvet himmel. Det blev kväll och det blev morgon. Det var den andra dagen.

9Sedan sa Gud: ”Vattnet under himlen ska samlas till en enda plats, så att torrt land kommer fram.” Det blev så, 10och Gud kallade det torra jord, och vattnet kallade han hav. Gud såg att det var gott. 11Gud sa: ”Jorden ska producera grönska: det ska växa fram alla slags fröbärande växter och fruktträd med kärnor i frukten.” Det blev så. 12Jorden grönskade: det växte fram fröbärande växter och träd, allt efter sina respektive sorter1:12 Sort, eller art som ordet ofta översätts, är ett mer omfattande ord i hebreiskan än i vårt språk. Ofta syftar det på djur/växter som kan föröka sig sinsemellan (t.ex. hunddjur), men ibland verkar det användas i ännu vidare betydelse (t.ex. kräldjur i v. 24).. Gud såg att det var gott. 13Det blev kväll och det blev morgon. Det var den tredje dagen.

14Gud sa: ”Det ska bli ljus på himlen som ska skilja dagen från natten. De ska bestämma tiderna på jorden och utmärka dagarna och åren. 15De ska vara ljus på himlen som lyser över jorden.” Det blev så. 16Gud skapade två stora ljus1:16 Underförstått: solen och månen. I en forntida kultur där sol och måne och andra himlakroppar betraktades som gudar och användningen av deras namn kunde ha missförståtts som gudanamn, är det möjligt att författaren medvetet bara kallade dem ljus för att visa att de inte var någonting mer än så., det större ljuset för att härska över dagen och det mindre ljuset för att härska över natten. Han skapade också stjärnorna. 17Gud placerade dem alla på himlen för att lysa upp jorden, 18härska över dagen och natten och skilja ljuset från mörkret. Gud såg att det var gott. 19Det blev kväll och det blev morgon. Det var den fjärde dagen.

20Gud sa: ”Vattnet ska vimla av levande varelser och fåglar flyga under himlavalvet över marken.” 21Gud skapade de stora havsdjuren efter sina sorter, likaså alla levande varelser som vattnen vimlar av och fåglar av alla slag. Gud såg att det var gott. 22Han välsignade dem och sa: ”Var fruktsamma och föröka er och fyll haven! Fåglarna ska också föröka sig och uppfylla jorden.” 23Det blev kväll och det blev morgon. Det var den femte dagen.

24Gud sa: ”Jorden ska bära fram djur av alla slag, boskap, kräldjur och vilda djur.” Det blev så. 25Gud skapade alla slags vilda djur och boskap och kräldjur, och Gud såg att det var gott.

26Sedan sa Gud: ”Vi ska göra människor till vår avbild, lika oss själva. De ska härska över fiskarna i havet och fåglarna i luften och boskapen, över hela jorden, och alla kräldjuren på jorden.”

27Och Gud skapade människan till sin egen avbild,

lik sig själv skapade Gud människan,

till man och kvinna skapade han dem.

28Gud välsignade dem och sa: ”Var fruktsamma och föröka er, uppfyll jorden och lägg den under er! Härska över fiskarna, fåglarna och alla djur som rör sig på jorden!” 29Gud sa: ”Jag ger er de fröbärande växterna på hela jorden och alla fruktträden med frö i sin frukt. De ska vara er mat. 30Åt markens djur, himlens fåglar, alla kräldjur på marken, och åt allt som lever ger jag alla gröna växter som föda.” Det blev så. 31Sedan såg Gud att allt som han hade skapat var mycket gott. Det blev kväll och det blev morgon. Det var den sjätte dagen.

Vietnamese Contemporary Bible

Sáng Thế Ký 1:1-31

Công Cuộc Sáng Tạo

1Ban đầu, Đức Chúa Trời1:1 Gi 1:1-2 sáng tạo trời đất.1:1 Thi 90:2; Ysai 42:5; Công 17:24; Khải 4:11 2Lúc ấy, đất chỉ là một khối hỗn độn, không có hình dạng rõ rệt. Bóng tối che mặt vực, và Linh Đức Chúa Trời vận hành1:2 Nt chuyển động trên mặt nước.

3Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng.” Ánh sáng liền xuất hiện. 4Đức Chúa Trời thấy ánh sáng tốt đẹp nên Ngài phân biệt sáng với tối. 5Đức Chúa Trời gọi sáng là “ngày,” tối là “đêm.” Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ nhất.

6Đức Chúa Trời lại phán: “Phải có khoảng không1:6 Nt khoảng rộng giữa nước để phân cách nước với nước.” 7Vì thế, Đức Chúa Trời tạo ra khoảng không để phân cách nước dưới khoảng không và nước trên khoảng không. 8Đức Chúa Trời gọi khoảng không là “trời.” Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ hai.

9Kế đến, Đức Chúa Trời phán: “Nước dưới trời phải tụ lại, và đất khô phải xuất hiện.” Liền có như thế. 10Đức Chúa Trời gọi chỗ khô là “đất” và chỗ nước tụ lại là “biển.” Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. 11Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh thảo mộc—cỏ kết hạt tùy theo loại, và cây kết quả có hạt tùy theo loại.” Liền có như thế. 12Đất sinh sản thảo mộc—cỏ kết hạt tùy theo loại, và cây kết quả có hạt tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy vậy là tốt đẹp. 13Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ ba.

14Tiếp theo, Đức Chúa Trời phán: “Phải có các thiên thể để soi sáng mặt đất, phân biệt ngày đêm, chỉ định thời tiết, ngày, và năm. 15Hãy có những vì sáng trên bầu trời để soi sáng mặt đất.” Liền có như thế. 16Đức Chúa Trời làm ra hai thiên thể. Thiên thể lớn hơn trị vì ban ngày; thiên thể nhỏ hơn cai quản ban đêm. Ngài cũng tạo nên các tinh tú. 17Đức Chúa Trời đặt các thiên thể để soi sáng mặt đất, 18cai quản ngày đêm, phân biệt sáng và tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. 19Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ tư.

20Đức Chúa Trời phán tiếp rằng: “Nước phải có thật nhiều cá và sinh vật. Trên mặt đất dưới vòm trời phải có chim bay lượn.” 21Đức Chúa Trời tạo ra các giống cá lớn dưới biển, các loài cá khác tùy theo loại, và các loài chim tùy theo loại. 22Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Ngài ban phước lành cho chúng và phán: “Hãy sinh sản và tăng thêm cho đầy dẫy biển. Các loài chim hãy tăng thêm nhiều trên đất.” 23Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ năm.

24Đức Chúa Trời lại phán: “Đất phải có các sinh vật tùy theo loại—gia súc, loài bò sát, và thú rừng mỗi loài tùy theo loại.” Liền có như thế. 25Đức Chúa Trời tạo ra các loài dã thú tùy theo loại, các loài súc vật tùy theo loại, và các loài bò sát tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy vậy là tốt đẹp.

26Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để quản trị các loài cá dưới biển, loài chim trên trời, cùng các loài súc vật, loài dã thú, và các loài bò sát trên mặt đất.”

27Vì thế, Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Dựa theo hình ảnh Đức Chúa Trời, Ngài tạo nên loài người. Ngài sáng tạo người nam và người nữ.

28Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán cùng họ rằng: “Hãy sinh sản và gia tăng cho đầy dẫy đất. Hãy chinh phục đất đai. Hãy quản trị các loài cá dưới biển, loài chim trên trời, và loài thú trên mặt đất.” 29Đức Chúa Trời phán: “Này, Ta cho các con mọi loài cỏ kết hạt trên mặt đất và mọi loài cây kết quả có hạt để dùng làm lương thực. 30Ta cũng ban cỏ xanh làm lương thực cho các loài thú dưới đất và loài chim trên trời.” Liền có như vậy. 31Đức Chúa Trời thấy mọi loài Ngài đã sáng tạo, tất cả đều tốt đẹp. Đó là buổi tối và buổi sáng ngày thứ sáu.