En Levende Bok

Filipperne 1:1-30

Hilsen

1Hilsen fra Paulus og Timoteus, som sammen tjener Jesus Kristus1:1 ”Kristus” betyr ”den salvede” på gresk. Blant Israels folk ble konger, prester og profeter salvet med olje før de begynte oppgaven sin. Gud hadde ved profetene lovet å sende en salvet konge som skulle herske over alle folk. Det hebraisk ordet ”Messias” betyr også ”den salvede”..

Til alle i Filippi som tilhører Gud gjennom fellesskapet med Jesus Kristus, og til lederne og medarbeiderne i menigheten.

2Jeg ber at Gud, vår Far, og Herren Jesus Kristus må vise dere godhet og fylle dere med fred.

Paulus ber for menigheten

3Jeg takker min Gud hver gang jeg tenker på dere. 4Jeg er alltid ekstra glad når jeg ber for dere alle. 5Helt siden jeg første gangen kom til dere, har dere støttet meg i mitt arbeid med å spre det glade budskapet om Jesus. 6Jeg er sikker på at Gud vil fullføre den gode gjerningen han har begynt i dere. Det betyr at dere fortsatt vil holde fast ved troen når Jesus Kristus kommer igjen.

7At jeg takker Gud for dere, og er glad i dere, er bare naturlig siden dere har en stor plass i hjertet mitt. Dere har jo alle hjulpet meg i oppdraget, både nå som jeg sitter i fengsel og når jeg før reiste omkring for å spre og bevise sannheten i det glade budskapet om Jesus.

8Gud selv vet at jeg lengter etter dere med en slik ømhet som bare Jesus Kristus kan gi. 9Jeg ber om at kjærligheten til Gud og mennesker vil vokse, og at dere vil lære å kjenne Gud og klart forstå 10hvordan dere skal handle. Da kan dere stå for Gud uten synd og skyld den dagen Kristus kommer igjen. 11Ja, jeg ber om at livet deres skal være fylt av gode gjerninger som blir et resultat av at dere lever i fellesskap med Jesus Kristus. Da skjer også det at andre på grunn av dere, ærer og hyller Gud.

Beredt til å dø for Kristus

12Kjære søsken1:12 På gresk: brødre. Samme tolkning blir brukt gjennom hele brevet., jeg vil at dere skal vite at fangeoppholdet mitt faktisk hjelper meg i å spre det glade budskapet. 13Alle her, inklusive soldatene fra den keiserlige garden, vet at jeg sitter i fengsel fordi jeg har spredd budskapet om Jesus Kristus.1:13 Paulus satt sannsynligvis i husarrest i Roma, og var voktet av forskjellige personer fra en garde med flere tusen soldater. Se Apostlenes gjerninger, historien om de første troende 28:16,30-31. 14De fleste troende har også gjennom fangenskapet mitt fått en mye sterkere tro på Herren Jesus. Nå sprer de budskapet fra Gud uten den minste frykt.

15Noen av dem forteller riktig nok om Kristus fordi de er misunnelse på meg og vil konkurrere med meg. Andre har rene motiv. 16De vil i sin kjærlighet hjelpe meg etter som de vet at jeg har fått i oppdrag å forsvare sannheten i det glade budskapet. 17Den første gruppen forteller om Kristus ut fra et uverdig motiv. De vil fremheve seg selv og tror at framgangen deres skal plage meg mens jeg sitter i fengsel. 18Hva spiller det for rolle? Hvilket motiv de nå enn har, rene eller uverdige, så bli i alle fall budskapet om Kristus spredd. Det gleder meg.

Ja, jeg tenker fortsette å glede meg. 19Jeg vet at på grunn av bønnene deres og Jesu Kristi Ånd skal jeg bli satt fri. 20Jeg håpet av hele mitt hjerte at jeg aldri skulle behøve å skamme meg for Gud. Jeg vil være like uredd som jeg alltid har vært, og gjennom mine handlinger ære Kristus, enten jeg får leve eller blir dømt til døden. 21Å leve videre er for meg å tjene Kristus, og min død ville hjelpe til å spre budskapet om ham. 22Men dersom et fortsatt liv her på jorden gir meg flere muligheter til å arbeide med godt resultat, da vet jeg ikke hva jeg vil foretrekke. 23Jeg blir dratt i to retninger: I det ene øyeblikket lengter jeg etter å forlate dette livet og være hos Kristus, noe som ville vært bedre for meg. 24-25I neste øyeblikk innser jeg at det er bedre for dere om jeg lever videre her på jorden. Derfor vet jeg at jeg skal leve og komme til dere, slik at troen kan spire og gi dere enda mer glede. 26Når jeg kommer tilbake til dere, har dere enda større grunn til å være stolte over Jesus Kristus, på grunn av det han har gjort for meg.

27Dere må passe på å leve på en måte som er verdig det glade budskapet om Kristus. Enten jeg er på besøk hos dere, eller er på et annet sted, så vil jeg høre at dere står fast og er enige. Side om side må dere kjempe for å spre troen på det glade budskapet om Kristus. 28Vær aldri redd for motstanderne. Det mot dere har, kommer til å vise at mange er på vei til å gå evig fortapt, mens dere vil bli frelst av Gud. 29Dere har jo fått forretten til ikke bare å tro på Kristus, men også til å lide for ham. 30Dere og jeg kjemper den samme kampen. Dere så hvordan jeg måtte lide for Kristus da jeg første gangen kom til dere,1:30 Paulus fikk sitte i fengsel i Filippi. Se Apostlenes gjerninger, historien om de første troende 16:19-40. og som dere vet, sitter jeg nå igjen i fengsel.

Vietnamese Contemporary Bible

Phi-líp 1:1-30

Lời Chào Thăm của Phao-lô

1Đây là thư của Phao-lô và Ti-mô-thê, đầy tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Kính gửi các tín hữu thánh thiện và các cấp lãnh đạo Hội Thánh tại thành phố Phi-líp.

2Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta và Chúa Cứu Thế Giê-xu ban ơn phước và bình an cho anh chị em.

Lời Cảm Tạ Chúa

3Mỗi khi tưởng nhớ anh chị em, tôi luôn ca ngợi Đức Chúa Trời. 4Mỗi lần cầu nguyện cho anh chị em, lòng tôi tràn ngập vui mừng. 5Vì anh chị em đã tích cực góp phần trong công cuộc truyền bá Phúc Âm từ khi tiếp nhận Chúa cho đến ngày nay. 6Chúa đã bắt đầu làm việc tốt lành trong anh chị em, nên Ngài sẽ tiếp tục hoàn thành công tác cho đến ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại; đó là điều chắc chắn.

7Tôi tín nhiệm anh chị em như thế vì anh chị em đã chiếm một chỗ quan trọng trong lòng tôi. Anh chị em đã cùng tôi chia sẻ ơn phước của Đức Chúa Trời, trong những ngày tôi bị xiềng xích giam cầm cũng như những năm tháng tôi được tự do biện hộ cho chân lý Phúc Âm. 8Có Đức Chúa Trời chứng giám, tôi triều mến anh chị em với tình yêu thương của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

9Tôi cầu nguyện cho tình yêu thương của anh chị em ngày càng chan chứa, cho tri thức và sự sáng suốt của anh chị em ngày càng sâu rộng, 10đến nỗi anh chị em biết quý chuộng những điều tuyệt hảo, giữ tâm hồn trong sạch và sống một cuộc đời hoàn toàn, không ai chê trách được cho đến ngày Chúa Cứu Thế trở lại. 11Cầu chúc anh chị em luôn kết quả tươi đẹp trong nếp sống công chính do Chúa Cứu Thế Giê-xu để đem vinh quang về cho Đức Chúa Trời.

Tinh Thần của Phao-lô trong Ngục Tối

12Thưa anh chị em, tôi mong anh chị em đều biết rõ: Chính những hoạn nạn, bức hại, tù đày của tôi đã làm cho Phúc Âm càng lan rộng 13đến nỗi mọi người, kể cả quân đoàn ngự lâm của hoàng đế La Mã, đều biết rõ tôi bị giam cầm chỉ vì theo Chúa Cứu Thế, 14và hầu hết các anh chị em tín hữu thấy tôi chịu tù tội vì Chúa nên không còn biết sợ xiềng xích gông cùm, nhưng càng vững tin nơi Chúa và anh dũng truyền giảng Phúc Âm.

15Thật ra, có vài người rao giảng Chúa Cứu Thế chỉ vì ganh tị. 16Nhưng những người khác rao giảng vì thiện chí, do lòng yêu thương thúc đẩy, họ biết rõ tôi có nhiệm vụ biện hộ cho Phúc Âm. 17Trong khi đó, mấy người kia rao giảng về Chúa Cứu Thế vì tinh thần đảng phái, không chân thành phục vụ; họ tưởng làm như thế là chồng chất thêm nỗi khổ đau cho tôi trong ngục tù! 18Dù giả bộ hay chân thành, Phúc Âm của Chúa Cứu Thế vẫn được truyền bá; chính sự thật đó làm cho tôi vui mừng sung sướng. 19Vâng, tôi sẽ tiếp tục vui mừng vì biết rõ: Nhờ anh chị em cầu nguyện và nhờ Thánh Linh của Chúa Cứu Thế Giê-xu phù hộ, việc này sẽ trở thành ích lợi cho tôi.

Đời Sống Phao-lô vì Chúa Cứu Thế

20Vì tôi mong mỏi hy vọng không bao giờ làm điều gì đáng hổ thẹn, nhưng tôi luôn luôn sẵn sàng nói về Chúa Cứu Thế cách bạo dạn trong cảnh tù đày hiện nay cũng như trong những ngày tự do. Dù sống hay chết, tôi vẫn làm nổi bật vinh quang của Chúa Cứu Thế. 21Đối với tôi, hễ còn sống ngày nào là còn có cơ hội làm vinh hiển Chúa Cứu Thế; nếu chết đi lại càng ích lợi cho tôi. 22Còn tiếp tục sống trong thân xác, tôi còn có cơ hội dìu dắt nhiều người đến với Chúa; nên tôi không biết lựa chọn thế nào. 23Tôi phân vân giữa sự sống và sự chết. Tôi muốn đi ở với Chúa Cứu Thế là điều vô cùng phước hạnh hơn cho tôi. 24Nhưng tôi còn ở lại đây để giúp ích anh chị em lại là điều tốt hơn.

25Tôi biết chắc tôi sẽ còn ở lại với anh chị em một thời gian nữa để giúp anh chị em tăng trưởng và vui sống trong đức tin. 26Nhờ đó, khi tôi trở lại viếng thăm, anh chị em sẽ càng vui mừng, ca ngợi Chúa Cứu Thế.

Gương Sáng của Chúa Cứu Thế

27Dù có mặt tôi hay không, anh chị em phải luôn luôn sống theo tiêu chuẩn cao cả trong Phúc Âm của Chúa Cứu Thế, ngõ hầu mọi người có thể nhìn nhận rằng anh chị em vẫn siết chặt hàng ngũ chiến đấu cho niềm tin Phúc Âm. 28Dù bọn thù nghịch làm gì đi nữa, anh chị em vẫn anh dũng kiên trì. Đó chính là điềm báo hiệu họ sẽ bị hư vong còn anh chị em được cứu rỗi. 29Vì anh chị em chẳng những tin Chúa Cứu Thế nhưng còn được vinh dự chịu gian khổ vì Ngài nữa. 30Anh chị em cũng hăng say chiến đấu bên cạnh chúng tôi: Như anh chị em đã thấy tôi từng chịu bao gian khổ vì Chúa, nay tôi vẫn tiếp tục đấu tranh quyết liệt cho Ngài.