Забур 10 CARS - Thi Thiên 10 VCB

Священное Писание

Забур 10:1-7

Песнь 10

Дирижёру хора. Песнь Давуда.

1На Вечного я уповаю.

Как вы можете говорить мне:

«Улетай на гору, как птица!

2Вот нечестивые уже натянули лук,

положили стрелу на тетиву,

чтобы во тьме стрелять

в правых сердцем.

3Когда устои распались,

что может сделать праведный?»

4Вечный в святом храме Своём,

Вечный на небесном троне Своём.

Он наблюдает за всем,

взор Его испытывает смертных.

5Вечный испытывает праведных,

а нечестивых и тех10:5 Или: «Вечный – праведен, и Он испытывает нечестивых, и тех…», кто любит насилие,

ненавидит Его душа.

6Он на нечестивых прольёт дождём

раскалённые угли с горящей серой;

палящий ветер – их участь.

7Вечный справедлив

и любит праведный суд;

праведники увидят Его лицо.

Vietnamese Contemporary Bible

Thi Thiên 10:1-18

Thi Thiên 10

Chúa Là Nơi Nương Náu

(Thơ của Đa-vít, soạn cho nhạc trưởng)

1Chúa Hằng Hữu, Ngài ở tận nơi đâu?

Khi nguy khốn sao Ngài đành giấu mặt?

2Vì kiêu ngạo, người ác hăm hở đuổi theo người bị hại.

Nhưng xin cho họ sa vào mưu chước họ đã bày ra.

3Bọn người ác khoe khoang về dục vọng;

theo kẻ tham lam, nguyền rủa, khinh Chúa Hằng Hữu.

4Người ác kiêu ngạo không tìm kiếm Đức Chúa Trời.

Dường như họ nghĩ Đức Chúa Trời không hiện hữu.

5Vì đường lối họ thành công luôn.

Họ tự cao và luật lệ Chúa quá xa xôi với họ.

Họ nhạo cười tất cả kẻ thù.

6Họ tự nhủ: “Chẳng bao giờ ta bị chao đảo!

Hạnh phúc luôn luôn và chẳng gặp tai ương!”

7Miệng đầy lời chửi rủa, dối trá, và đe dọa.

Lưỡi họ toàn lời gây rối và độc ác.

8Họ rình rập nơi thôn làng,

mai phục ám sát người vô tội.

Bí mật rình mò chờ nạn nhân.

9Họ nằm yên như sư tử ngụy trang,

để bắt người khốn cùng.

Họ bắt được người ấy và gỡ ra khỏi lưới.

10Các nạn nhân cô thế bị chà nát;

trước sức mạnh đành phải chịu đầu hàng.

11Người ác nhủ thầm: “Chúa chẳng xem việc chúng ta đâu!

Ngài che mặt, chẳng bao giờ trông thấy!”

12Chúa Hằng Hữu, xin trỗi dậy!

Xin trừng phạt người ác, lạy Đức Chúa Trời!

Xin đừng quên cứu giúp người khốn cùng!

13Sao để cho ác nhân phỉ báng Đức Chúa Trời?

Rồi thầm nghĩ: “Chúa không bao giờ tra hỏi.”

14Nhưng lạy Chúa, Chúa thấy rõ những khó khăn sầu khổ.

Xin Chúa ghi vào và hình phạt ác nhân.

Nạn nhân chỉ trông chờ nơi Chúa.

Vì Chúa là Đấng bênh vực người mồ côi.

15Xin bẻ gãy cánh tay người độc hại và gian ác!

Và bắt chúng khai hết những hành vi bạo tàn.

16Chúa Hằng Hữu là Vua muôn đời!

Các dân sẽ bị diệt khỏi nước Ngài.

17Chúa Hằng Hữu đã nghe ước nguyện người khốn khổ.

Ngài lắng nghe và an ủi tâm hồn.

18Ngài bênh vực người bị áp bức và mồ côi,

để những người sinh ra từ đất không còn gây sợ hãi.