Ang Pulong Sa Dios

Leviticus 24:1-23

Ang Pagbutang ug mga Suga ug ang mga Pan Sulod sa Tolda nga Tagboanan

(Exo. 27:20-21)

1-4Gisugo sa Ginoo si Moises nga ipatuman niya kini sa mga Israelinhon:

Dad-an ninyo ug purong lana gikan sa dinukdok nga olibo ang mga suga nga anaa gawas sa kuwarto diin nahimutang ang Kahon sa Kasugoan didto sa Tolda nga Tagboanan, aron walay undang ang pagsiga niini sa presensya sa Ginoo. Kon mongitngit na, dagkotan kini ni Aaron ug pasigahon hangtod mobuntag. Sigurohon gayod niya nga kanunayng magsiga ang mga suga sa butanganan niini nga purong bulawan. Kini nga mga patakaran kinahanglan nga tumanon ninyo hangtod sa umaabot nga mga henerasyon.

5Paghimo kamo ug 12 ka buok pan, nga ang matag usa hinimo sa upat ka kilo nga maayong klase sa harina. 6Ibutang ninyo kini sa lamisa nga purong bulawan sa presensya sa Ginoo. Ipatong-patong ninyo kini sa duha ka tapok nga ang matag tapok may unom ka pan. 7Unya butangi ninyog purong insenso sa tapad24:7 sa tapad: o, sa ibabaw. sa kada tapok. Ang insenso mao ang magsilbing halad sa paghinumdom sa Ginoo. Sunogon kini ingon nga halad pinaagi sa kalayo baylo sa mga pan. 8Kinahanglan nga magbutang gayod kanunay niining mga pan sa presensya sa Ginoo sa matag Adlaw nga Igpapahulay. Katungdanan ninyo kini nga mga Israelinhon hangtod sa kahangtoran. 9Kini nga mga pan alang sa mga pari nga kaliwat ni Aaron. Kan-on nila kini didto sa balaan nga dapit sa Tolda, tungod kay balaan kaayo kini nga bahin sa mga halad alang sa Ginoo, ug alang gayod kini kanila hangtod sa kahangtoran.

Ang Silot alang sa Magpasipala sa Dios ug sa Makahimo ug Daotan ngadto sa Iyang Isigka-tawo

10-11May usa ka tawo nga ang iyang amahan Ehiptohanon ug ang iyang inahan Israelinhon. (Ang ngalan sa iyang inahan mao si Shelomit, nga anak ni Debri nga gikan sa tribo ni Dan.) Nakig-away kining tawhana sa usa ka Israelinhon didto sa kampo, ug gipasipalahan niya ang ngalan sa Ginoo. Busa gidala nila siya kang Moises, 12ug gibilanggo nila siya hangtod nga ilang mahibaloan kon unsa ang kabubut-on sa Ginoo alang sa maong tawo.

13Unya, miingon ang Ginoo kang Moises, 14“Dad-a didto sa gawas sa kampo kadtong tawo nga nagpasipala kanako. Ang tanan nga nakadungog sa iyang pagpasipala mopatong sa ilang kamot sa iyang ulo sa pagpamatuod nga may tulubagon siya, ug pagkahuman batohon siya sa tibuok katilingban. 15-16Ug sultihi ang mga Israelinhon nga si bisan kinsa kanila ug sa mga langyaw nga nagapuyo uban kanila nga mopasipala kanako o sa akong ngalan may tulubagon. Kinahanglan nga batohon siya sa tibuok katilingban hangtod nga mamatay gayod.

17“Si bisan kinsa nga makapatay ug tawo, kinahanglan nga patyon usab. 18Kon ang usa ka tawo makapatay sa mananap sa uban kinahanglan nga ilisan niya kini ug laing buhi nga mananap. 19-20Kon nakahimo ug daotan ang usa ka tawo ngadto sa iyang isigka-tawo, kinahanglan nga himuon usab kaniya ang sama sa iyang gihimo. Kon gibali niya ang bukog sa uban, balian usab siya sa iyang bukog. Kon gilugit niya ang mata sa uban, lugitan usab siya sa iyang mata. Ug kon gipangagan niya ang uban, pangagan usab siya. 21Si bisan kinsa nga makapatay ug mananap kinahanglan nga ilisan niya kini, apan ang nakapatay ug tawo kinahanglan nga patyon usab. 22Kini nga balaod alang kaninyong tanan, mga Israelinhon man o mga langyaw. Ako mao ang Ginoo nga inyong Dios.”

23Human kini masulti ni Moises ngadto sa mga Israelinhon, gidala nila didto sa gawas sa kampo ang tawo nga nagpasipala sa Dios. Ug gibato nila siya sumala sa gisugo sa Ginoo kang Moises.

Vietnamese Contemporary Bible

Lê-vi Ký 24:1-23

Dầu Nguyên Chất và Bánh Thánh

1Chúa Hằng Hữu phán bảo Môi-se: 2“Hãy dặn người Ít-ra-ên đem dầu ô-liu nguyên chất đến để đốt đèn cho cháy mãi. 3A-rôn người phải lo chăm sóc đèn cho sáng luôn cả đêm lẫn ngày trong Đền Tạm, bên ngoài bức màn, trước mặt Chúa Hằng Hữu. Đây là một quy lệ các ngươi phải giữ mãi mãi. 4Các đèn trên chân đèn vàng ròng này phải được chăm nom thường xuyên cho cháy sáng luôn trước mặt Chúa Hằng Hữu.

5Lấy bột mịn làm mười hai ổ bánh, mỗi ổ dùng 4,4 lít bột. 6Xếp bánh trên bàn bằng vàng ròng trước mặt Chúa Hằng Hữu thành hai hàng, mỗi hàng sáu ổ. 7Lấy nhũ hương nguyên chất rắc lên mỗi hàng bánh. Đó là một lễ vật tưởng niệm dùng lửa dâng lên Chúa Hằng Hữu. 8Mỗi ngày lễ Sa-bát, A-rôn sẽ xếp mười hai ổ bánh mới trước mặt Chúa Hằng Hữu, tượng trưng cho giao ước trường tồn đã thiết lập với người Ít-ra-ên. 9Bánh sẽ là thực phẩm của A-rôn và các con trai người, họ sẽ ăn tại một nơi thánh, vì đây là những lễ vật rất thánh, dùng lửa dâng lên Chúa Hằng Hữu.”

Ví Dụ về Hình Phạt

10Một người kia có mẹ là người Ít-ra-ên, cha là người Ai Cập cùng ra đi với người Ít-ra-ên. Một hôm người này cãi nhau với một người Ít-ra-ên trong nơi đóng trại. 11Trong lúc cãi vã, con trai người đàn bà Ít-ra-ên ấy xúc phạm đến Danh của Chúa Hằng Hữu. Người ta dẫn người ấy đến cho Môi-se. Người này là con của bà Sê-lô-mít, cháu bà Điệp-ri, thuộc đại tộc Đan. 12Họ giữ người ấy lại, cho đến khi ý của Chúa Hằng Hữu được tỏ ra.

13Chúa Hằng Hữu phán bảo Môi-se: 14“Đem người đã xúc phạm Danh Ta ra khỏi nơi đóng trại, những ai đã nghe người ấy nói sẽ đặt tay trên đầu người, rồi toàn dân sẽ lấy đá ném vào người cho chết đi. 15Cũng báo cho dân hay rằng, ai rủa Đức Chúa Trời mình phải chịu tội. 16Ai xúc phạm Danh Chúa Hằng Hữu phải bị xử tử. Toàn dân sẽ ném đá cho chết. Luật này áp dụng cho cả người Ít-ra-ên và ngoại kiều.

17Ai giết người sẽ bị xử tử.

18Ai giết thú vật phải bồi thường, vật sống đền vật sống.24:18 Nt thêm: mạng đền mạng

19Ai gây thương tích cho người khác thế nào, phải chịu phạt bằng một thương tích thế ấy: 20Xương đền xương, mắt đền mắt, răng đền răng. Gây thương tích nào đền thương tích ấy.

21Ai giết thú vật phải bồi thường, nhưng ai giết người phải bị xử tử.

22Luật này áp dụng chung cho người Ít-ra-ên và ngoại kiều. Ta là Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của các ngươi.”

23Sau khi nghe lệnh của Chúa Hằng Hữu do Môi-se truyền lại, dân chúng đem người đã xúc phạm đến Danh Đức Chúa Trời ra khỏi nơi đóng trại và ném đá chết.