Ang Pulong Sa Dios

Joel 1:1-20

1Mao kini ang mensahe sa Ginoo nga gipadayag kang Joel nga anak ni Petuel.

Giataki sa mga Dulon ang mga Tanom

2Kamong mga tigdumala sa Juda ug tanang mga lumulupyo niini, pamatia ninyo kining isugilon ko kaninyo. Wala pay nahitabo nga sama niini sa panahon sa inyong mga katigulangan o sa inyong panahon. 3Kinahanglang isugilon kini sa matag henerasyon sa inyong mga kaliwat:

4Nagpuli-puli sa pag-ataki sa mga tanom ang mga panon sa dulon. Ang mga tanom nga salin sa usa ka panon gitilok sa misunod nga panon hangtod nga nahurot.1:4 Mahimo nga kining bersikuloha nagasugilon bahin sa upat ka matang sa dulon o upat ka “ang-ang” sa pagdako sa dulon.

5Kamong mga palahubog, bangon kamo ug pagminatay ug hilak kay wala na kamoy mainom; wala nay mga ubas nga himuong bag-ong bino. 6Kay ang yuta sa Ginoo1:6 ang yuta sa Ginoo: sa literal, ang akong yuta. giataki sa makadaot nga mga dulon1:6 mga dulon: sa literal, nasod. Posible nga ang kini nga mga dulon nagarepresentar sa nasod nga mosulong sa Juda. nga labihan ka daghan. Hait ang ilang mga ngipon sama sa ngipon sa liyon. 7Gipangdaot nila ang mga tanom nga ubas ug ang mga kahoy nga igos sa Ginoo.1:7 ang mga tanom… sa Ginoo: sa literal, ang akong mga tanom nga ubas ug ang akong mga kahoy nga igos. Gikitkit nila ang mga panit niini hangtod nga miputi ang mga sanga.

8Pagminatay kamog hilak sama sa dalagang putli nga nagbistig sako sa pagpakita sa iyang pagsubo sa pagkamatay sa iyang pamanhonon. 9Wala nay mga trigo ug mga bino nga ikahalad sa templo sa Ginoo; mao nga nagasubo ang mga pari nga nagaalagad sa Ginoo. 10Nangadaot ang mga kaumahan ug daw sama kini sa tawo nga nagasubo. Nangadaot ang mga trigo ug wala nay duga sa ubas ug lana.

11Kamong mga mag-uuma, pagsubo1:11 pagsubo: o, maulaw. kamo! Kamong nagaatiman sa tamnanan sa mga ubas, pagminatay kamog hilak, kay nahurot ug kadaot ang mga ani sa kaumahan—ang mga trigo ug mga barley, 12ug nangalaya ang mga punoan sa ubas ug ang tanang mga kahoy, apil na ang mga igos, pomegranata, palma, ug mansanas. Tinuod gayod nga nawala na ang kalipay sa mga tawo.

Ang Panawagan sa Paghinulsol

13Kamong mga pari nga nagaalagad sa halaran sa akong Dios, pagbisti kamog sako ug adto sa templo, ug pagminatay kamog hilak tibuok gabii, kay wala nay mga trigo ug mga bino nga ihalad sa templo sa inyong Dios. 14Sultihi ninyo ang mga tigdumala sa Juda ug ang tanang mga lumulupyo niini nga magtigom ug magpuasa silang tanan sa templo sa Ginoo nga inyong Dios. Mangayo sila ug tabang sa Ginoo.

15Hapit na ang adlaw nga manglaglag ang Ginoo nga Makagagahom. 16Ato mismong nasaksihan kon sa unsang paagi kita nawad-an ug pagkaon ug kon sa unsang paagi nawala ang kasadya sa templo sa Dios. 17Nangamatay ang mga binhi sa yuta. Ug tungod kay nanguyos ang mga trigo, wala nay sulod ang mga bodega, busa nangaguba na lang kini. 18Nagaagulo ang mga mananap tungod sa kagutom. Naglibot-libot ang mga baka kay wala na silay sibsiban; bisan pa ang mga karnero nagaantos.

19Nagaampo si Joel. Miingon siya, “Nagapanawag ako kanimo, Ginoo, kay nangalaya ang mga sibsiban ug ang tanang kahoy sa kaumahan nga daw sa gilamoy sa kalayo. 20Bisan ang ihalas nga mga mananap nagapanawag kanimo, kay mihubas na gayod ang mga suba ug tuboran, ug nangalaya na ang mga sabsabanan nga daw sa gilamoy sa kalayo.”

Vietnamese Contemporary Bible

Giô-ên 1:1-20

1Chúa Hằng Hữu ban sứ điệp này cho Giô-ên, con trai của Phê-thu-ên.

Than Khóc về Nạn Châu Chấu

2Nghe đây, hỡi các lãnh đạo của toàn dân.

Hãy nghe, hỡi tất cả cư dân sống trong xứ.

Trong mọi thời của các ngươi,

có điều nào như thế xảy ra trước đó không?

3Hãy thuật lại cho con cháu các ngươi,

để con cháu các ngươi kể lại cho con cháu của chúng.

Tiếp tục truyền lại từ đời này sang đời khác.

4Sau khi sâu keo cắn phá mùa màng

thì cào cào ăn những gì còn lại!

Kế đến những gì cào cào bỏ lại, sâu lột vỏ ăn,

rồi những gì sót lại thì châu chấu sẽ ăn.

5Hãy tỉnh thức, hỡi những kẻ say sưa và khóc lóc!

Hãy sầu than, hỡi những kẻ nghiện rượu!

Vì các vườn nho bị tàn phá,

rượu nho ngon ngọt không còn nữa.

6Một đội quân châu chấu xâm lấn đất nước Ta,

một đạo quân kinh hoàng không đếm xuể.

Răng chúng như răng sư tử,

nanh như nanh sư tử cái.

7Chúng cắn nát các cây nho Ta

và tàn phá cây vả Ta,

chúng lột sạch từ gốc đến ngọn,

để trơ những cành trắng phếu.

8Hãy than khóc như thiếu phụ mặc bao gai

than khóc cho cái chết của chồng mình.

9Vì không còn lúa gạo và rượu nho

để dâng lễ trong Đền Thờ Chúa Hằng Hữu.

Vì vậy các thầy tế lễ đều sầu não,

những người phục vụ Chúa Hằng Hữu đều thở than.

10Đồng ruộng đã bị phá hoang,

đất vườn tiêu điều.

Lúa thóc bị hủy hoại,

nho bị héo khô,

và dầu ô-liu cũng cạn kiệt.

11Hãy tuyệt vọng, hỡi tất cả nông gia!

Hãy than van, hỡi những người trồng nho!

Hãy khóc lóc vì lúa mì và lúa mạch—

tất cả mùa màng ruộng đồng—đều đã mất hết.

12Các dây nho đã khô,

và cây vả đã héo.

Cây thạch lựu, cây chà là, và cây táo—

tất cả cây trái—đều đã úa tàn.

13Hãy mặc áo bao gai và kêu khóc, hỡi các thầy tế lễ!

Hãy than van, hỡi những người phục vụ nơi bàn thờ!

Hãy đến, mặc áo bao gai và than khóc suốt đêm,

hỡi những người phục vụ Đức Chúa Trời của tôi.

Vì không còn lễ chay và lễ quán

được dâng lên trong Đền Thờ Đức Chúa Trời các ngươi nữa.

14Hãy công bố1:14 Nt thánh hóa hoặc biệt riêng ngày kiêng ăn;

hãy kêu gọi toàn dân tham dự buổi lễ trọng thể.

Hãy mời các trưởng lão

và toàn thể dân chúng của xứ

vào Đền Thờ Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời của các ngươi,

và than khóc với Chúa tại đó.

15Ngày của Chúa Hằng Hữu đã gần,

ngày hủy diệt của Đấng Toàn Năng đã đến.

Ôi, ngày ấy đáng sợ biết bao!

16Thực phẩm chúng ta biến mất ngay trước mắt.

Không còn lễ hội vui mừng trong nhà của Đức Chúa Trời chúng ta.

17Hạt giống mục nát trong lòng đất,

và mùa màng thất thu.

Các kho thóc đều trống rỗng,

và các vựa lúa đều tan biến.

18Gia súc gầm rống lên vì đói!

Các bầy bò đi lang thang xiêu xẹo

vì không còn cỏ để ăn.

Các bầy chiên và bầy dê kêu trong đau đớn.

19Thưa Chúa Hằng Hữu, xin cứu giúp chúng con!

Lửa đã thiêu đốt các bãi cỏ ngoài đồng nội,

làm tàn rụi cây cối trong ruộng vườn.

20Các thú rừng cũng kêu van với Chúa

vì sông suối cạn nguồn,

và lửa đã thiêu nuốt đồng cỏ nơi hoang mạc.